Menu Button
SONG DA 5 JOINT STOCK COMPANY
Vietnamese Korean

Công ty Cổ phần Sông Đà 5

Sông Đà 5 và Chaleun Sekong ký kết thành công Hợp đồng mua bán điện với EVN
Ngày 04/10/2019, trong khuôn khổ kỳ họp lần thứ 42 Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác song phương Việt Nam – Lào tại Hà Nội, đã long trọng diễn ra lễ ký kết hợp đồng mua bán điện giữa EVN và Công ty TNHH Năng lượng Chaleun Sekong. Trước sự chứng kiến củaThủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Thongloun Sisoulith, Bộ trưởng Bộ công thương Việt Nam Trần Tuấn Anh và Bộ trưởng Bộ Năng lượng và Mỏ Lào Khammany Inthirath, ông Trần Đình Nhân -Tổng giám đốc EVN và ông Chanthanome Phommany - Chủ tịch Công ty TNHH Năng lượng Chaleun Sekong đã ký kết hợp đồng mua bán điện đối với nhà máy thủy điện Nam Kong 2 (công suất 66 MW), Nam Kong 3 (công suất 54 MW) và nhà máy thủy điện Nam Emoun (công suất (129 MW). Sự kiện ký kết hợp đồng mua bán điện này có ý nghĩa vô cùng quan trọng về mặt vĩ mô, củng cố và làm sâu sắc hơn mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, mở rộng quy mô hợp tác về kinh tế trong lĩnh vực năng lượng với rất nhiều cơ hội tiềm năng. Mặt khác, sự kiện cũng ghi nhận những nỗ lực không ngừng của các doanh nghiệp Việt Nam và Lào như EVN, Chaleun Sekong và Sông Đà 5, đánh dấu sự thành công trong việc hiện thực hóa các nội dung cam kết trong Biên bản ghi nhớ hợp tác đầu tư giữa Công ty cổ phần Sông Đà 5 và Công ty TNHH Năng lượng Chaleun Sekong tại kỳ họp lần thứ 40 của hai chính phủ và mở ra các cơ hội hợp tác tốt đẹp hơn nữa giữa hai doanh nghiệp trong tương lai. Nhìn lại chặng đường hai năm qua từ thời điểm ký Biên bản ghi nhớ hợp tác toàn diện giữa hai doanh nghiệp về việc hợp tác đầu tư, thi công các công trình thủy điện tại Lào, truyền tải bán điện về Việt Nam đến thành công ký PPA ngày hôm nay là sự nỗ lực, quyết tâm và sự phối hợp chặt chẽ của Sông Đà 5 và Công ty TNHH Năng lượng Chaleun Sekong, từng bước hiện thực hóa các nội dung thỏa thuận. Đoàn đại biểu CSE và Sông Đà 5 tại buổi lễ ký kết Hiện nay, trong ba dự án ký hợp đồng mua bán điện lần này, Sông Đà 5 đang thi công hai dự án là Nam Kong 3 (công suất 54 MW) và Tổng thầu nhà máy thủy điện Nam Emoun (công suất (129 MW) trong đó dự kiến Nam Kong 3 sẽ hoàn thành và phát điện vào cuối 2020 và Nam Emoun là năm 2021. Nhà thầu Sông Đà 5 với kinh nghiệm ba mươi năm thi công các công trình thủy điện trọng điểm tại Việt Nam và Lào hoàn toàn tự tin sẽ hoàn thành các dự án này đúng tiến độ, đảm bảo mỹ quan, chất lượng và an toàn Nguồn: Sông Đà 5
  • Hiện thực hóa hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và Lào
    Công Thương - Ngay sau kỳ họp lần thứ 42 Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác song phương Việt Nam – Lào tổ chức tại Hà Nội, chiều ngày 4/1/2020, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đã tiếp, làm việc với Bộ trưởng Bộ Năng lượng và Mỏ Lào Khammany Inthirath. Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh tiếp Bộ trưởng Năng lượng và Mỏ Lào Khammany Inthirath Tại buổi tiếp, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh bày tỏ sự vui mừng khi được chào đón Bộ trưởng Khammany Inthirath tới Bộ Công Thương, cùng tham dự Lễ ký kết hợp đồng mua bán điện giữa các chủ đầu tư hai nước. Sự kiện này có ý nghĩa hết sức quan trọng, thực hiện đúng chủ trương về đẩy mạnh quan hệ hợp tác của Bộ Chính trị và Chính phủ hai nước. Trong khuôn khổ làm việc của hai Bộ Chính trị và Ủy ban liên Chính phủ, lãnh đạo hai bên đã nhấn mạnh, đồng thời khẳng định hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và Lào, cụ thể là hợp tác mua bán điện đã đi vào hiện thực. Hợp tác năng lượng nói chung và mua bán điện nói riêng đã làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước, là động lực mới mở rộng quy mô hợp tác hai bên. Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho biết mô hình hợp tác “win-win” giữa hai bên làm cơ sở để Chính phủ và cơ quan hai nước mở rộng hợp tác hơn nữa trong thời gian tới, theo tinh thần Thủ tướng hai nước đã thống nhất tại Kỳ họp 42 Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác song phương giữa Việt Nam và Lào. Những kết quả tích cực trong hợp tác năng lượng đạt được nhờ sự chỉ đạo tập trung, quyết liệt giữa Bộ Công Thương Việt Nam và Bộ Năng lượng và Mỏ Lào, sự vào cuộc tích cực của các doanh nghiệp, chủ đầu tư của hai bên, đặc biệt là sự chỉ đạo sát sao của đồng chí Bộ trưởng Bộ Năng lượng và Mỏ Lào. Bộ trưởng Trần Tuấn Anh khẳng định những cơ hội, dư địa hợp tác năng lượng còn nhiều ở phía trước; hy vọng hai bên sẽ cùng đạt được những thành công mới trong thời gian tới. Bộ trưởng chúc mừng doanh nghiệp, chủ đầu tư hai bên đã đàm phán, ký kết các hợp đồng vào dịp rất có ý nghĩa; cam kết sẽ chỉ đạo quyết liệt và sát sao vì mối quan hệ phát triển tốt đẹp giữa hai nước nói chung, trong lĩnh vực năng lượng và mỏ nói riêng. Toàn cảnh lễ ký hợp đồng mua bán điện giữa Việt Nam và Lào Bộ trưởng Năng lượng và Mỏ Lào Khammany Inthirath đánh giá cao Kỳ họp 42 lần này; cho rằng Kỳ họp đã đạt được nhiều thành công hơn các năm trước. Thay mặt Chính phủ, Nhân dân Lào, Bộ trưởng gửi lời cảm ơn Nhân dân Việt Nam, Chính phủ Việt Nam, Bộ Công Thương và đặc biệt Bộ trưởng Trần Tuấn Anh. Trong thời gian qua, doanh nghiệp và chủ đầu tư đã ký kết được 8 hợp đồng mua bán điện và 5 hợp đồng mua bán điện được ký ngày 4/1/2020. Bộ trưởng Khammany Inthirath bày tỏ hy vọng rằng các dự án ký kết sẽ được triển khai có hiệu quả. Ký hợp đồng mua bán điện giữa EVN và Tập đoàn Phongsubthavi Ký hợp đồng mua bán điện giữa EVN và Công ty TNHH Năng lượng Chaleun Sekong Bộ trưởng Khammany Inthirath cũng cho biết, phía Lào hiện đang nghiên cứu khả thi 20 dự án, trong đó có các dự án điện có công suất cao. Hiện nay, phía Lào đang tập trung nguồn sản xuất, xây dựng đường dây Bắc Nam để trao đổi thương mại điện với các nước trong khu vực. Tại Kỳ họp 42 Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác song phương Việt Nam-Lào, hợp tác năng lượng đã trở thành một nội dung hợp tác chính. Do vậy, trong thời gian tới, cơ quan cũng như doanh nghiệp và chủ đầu tư hai nước cần hợp tác chặt chẽ hơn nữa để hợp tác năng lượng và mỏ giữa hai nước ngày càng được tăng cường, làm động lực phát triển kinh tế giữa hai nước. Hai Bộ trưởng giao Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, EVN và các cơ quan, doanh nghiệp liên quan của Lào tiếp tục tích cực phối hợp chặt chẽ để sớm hoàn thành công tác đàm phán của các dự án NMTĐ khác đã được chấp thuận chủ trương cũng như tiếp tục triển khai quyết liệt các công trình lưới điện để truyền tải điện từ các dự án trên về Việt Nam trong năm 2020. Bộ trưởng Trần Tuấn Anh và Bộ trưởng Khammany Inthirath và các đại biểu tham dự Lễ ký Kết thúc buổi làm việc, hai Bộ trưởng đã chứng kiến lễ ký kết hợp đồng mua bán điện giữa EVN và Tập đoàn Phongsubthavy, giữa EVN và Công ty TNHH Năng lượng Chaleun Sekong. Ông Trần Đình Nhân- Tổng giám đốc EVN và ông Phongsavath Senaphuan- Chủ tịch Tập đoàn Phongsubthavi đã ký hợp đồng mua bán điện đối với Nhà máy thủy điện Nậm San 3A (công suất 69MW) và Nậm San 3B (công suất 45 MW) thuộc cụm thủy điện Nậm Mô. Cùng đó ông Trần Đình Nhân- Tổng giám đốc EVN và ông Canthanome Phommany, Chủ tịch Công ty TNHH Năng lượng Chaleun Sekong đã ký hợp đồng mua bán điện đối với nhà máy thủy điện Nam Kong 2 (công suất 66MW) , Nam Kong 3 (công suất 54 MW) và nhà máy thủy điện Nam Emoun công suất (129 MW). Các hợp đồng mua bán điện này ký kết và đi vào triển khai có ý nghĩa thiết thực triển khai chủ trương của lãnh đạo cấp cao Việt Nam và Lào tăng cường quan hệ mua bán điện giữa hai nước và có ý nghĩa quan trọng đối với nhu cầu năng lượng để phát triển kinh tế của Việt Nam cũng như nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Lào trong thời gian tới. Kỳ họp lần thứ 42 Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác song phương Việt Nam – Lào Bộ trưởng Công Thương tham dự kỳ họp của Uỷ ban Thủ tướng Việt Nam và Lào chứng kiến lễ ký kết hợp tác giữa các doanh nghiệp hai bên Trước đó, vào sáng nay, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Lào - Thongloun Sisoulith đã đồng chủ trì kỳ họp lần thứ 42 Uỷ ban liên Chính phủ Việt Nam-Lào. Hai bên đã đánh giá, thảo luận nhiều nội dung quan trọng, cũng như đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển trong thời gian tới. Quang Lộc - Cấn Dũng - Bùi Hùng
  • Người trị thủy sông Đà chặn lũ sông Kỳ Cùng
    (Xây dựng) - Với bề dày nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng các công trình thủy điện đã từng trị thủy sông Đà, Công ty Cổ phần Sông Đà 5 (Sông Đà 5), nay nhận được sự tín nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện nhiệm vụ quan trọng chặn lũ đầu nguồn sông Kỳ Cùng - thi công công trình trọng điểm hồ chứa nước Bản Lải tại xã Khuất Xá, Lộc Bình, Lạng Sơn. Sông Đà 5 đã được Cục Quản lý xây dựng công trình - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vinh danh là một trong những đơn vị thi công xuất sắc các dự án của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Sông Kỳ Cùng bắt nguồn từ vùng núi Bắc Xa, có chiều dài khoảng 243km, thuộc huyện Đình Lập, Lạng Sơn. Đây là con sông duy nhất không chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam để đổ vào biển Đông mà chảy ngược theo hướng Đông Nam – Tây Bắc sang Trung Quốc qua thành phố Lạng Sơn. Dòng sông Kỳ Cùng có độ dốc rất cao, chảy uốn lượn mềm mại từ phía đầu cho đến cuối thị trấn trước khi xiên vào khe núi, với những khúc cua, ẩn mình vào đá, núi, nhô ra giữa phố phường, ôm lấy thôn xóm, nhả ăm ắp phù sa cho những nương mía, bãi dâu, đồng ngô vàng óng. Để rồi có hai mùa mưa nắng, cho hai con nước khác nhau. Một mùa thì nước lững lờ, xanh thăm thẳm nhìn rõ cả những tôm cá đang bơi lội. Một mùa thì dòng nước hung dữ tới tận “kỳ cùng” lồng lên, nước xiết đặc biệt nguy hiểm, bao mùa mưa lũ đã gây đại họa cho người dân nơi đây. Nhiều năm qua, mong ước của chính quyền cũng như người dân ở tỉnh Lạng Sơn là có thể khống chế được dòng chảy để ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế - xã hội. Và Sông Đà 5 xuất hiện như một phép màu định mệnh. Cụm công trình đầu mối dự án hồ chứa nước Bản Lải. Với kinh nghiệm 30 năm trong lĩnh vực xây dựng công trình thủy điện, nhắc đến Sông Đà 5 là gắn với thành công của nhiều công trình trọng điểm cấp quốc gia như: Thủy điện Yaly, Thủy điện Tuyên Quang, Thủy điện Sơn La, Thủy điện Lai Châu… Để được thi công hồ chứa nước Bản Lải, Sông Đà 5 đã vượt qua yêu cầu khắt khe của chủ đầu tư và cạnh tranh lành mạnh với nhiều đối tác trong ngành. Vì đây là công trình trọng điểm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đòi hỏi kỹ thuật cao, có ý nghĩa rất quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lạng Sơn. Dự án hồ chứa nước Bản Lải, được phê duyệt theo Quyết định số 4183/QĐ-BNN-XD của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Tổng mức đầu tư là 2.998,5 tỷ đồng, thời gian thực hiện từ 2018 - 2021. Theo đó, dự án này được khởi công từ ngày 20/10/2018. Mục đích của dự án là xả nước đảm bảo dòng chảy môi trường hạ du trong mùa khô, cấp nước tưới cho trên 2.000ha đất canh tác; tạo nguồn cấp nước sinh hoạt cho khoảng 122.000 người; xả nước đảm bảo môi trường sinh thái hạ du vào mùa khô, kết hợp nuôi trồng thủy sản và phát điện. Công suất là 35.470m3/ngày đêm. Thi công bê tông đầm lăn bờ trái đập thuộc dự án Hồ chứa nước Bản Lải. Hồ chứa nước Bản Lải sẽ có sức chứa 164,3 triệu m3, gồm các hạng mục chính: Xây dựng cụm đầu mối hồ chứa nước Bản Lải (đập bê tông trọng lực, cống lấy nước, tràn xả mặt và tràn tường ngực trong thân đập bê tông), hệ thống kênh tưới chính, đường thi công kết hợp quản lý cầu qua sông Kỳ Cùng, hệ thống cơ khí, điện quản lý vận hành và quan trắc. Được biết, dự án có 4 đơn vị thi công trong đó Sông Đà 5 làm nhà thầu đứng đầu liên danh thi công xây lắp, cụm công trình chính bao gồm: Đập bê tông tràn xả lũ, cống xả sâu, bể tiểu năng… Giá trị gói thầu ước tính 1.223 tỷ đồng. Đây là cụm công trình đầu mối được đánh giá là gói thầu quan trọng nhất đối với dự án Hồ chứa nước Bản Lải với khối lượng thi công lớn, phức tạp. Tuy nhiên, sau thành công của thủy điện Sơn La và thủy điện Lai Châu, thủy điện Nam Nghiệp 1 tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào… Sông Đà 5 hoàn toàn tự tin làm chủ công nghệ sản xuất và thi công bê tông đầm lăn. Toàn bộ dây chuyền sản xuất vữa bê tông RCC và hệ thống băng tải vận chuyển bê tông của dự án đều do những kỹ sư và công nhân kỹ thuật của công ty lắp đặt, vận hành. Trong tiết xuân nhưng trời vẫn giá lạnh, cái khắc nghiệt của núi rừng phía Bắc, nhưng người công nhân của Sông Đà 5 vẫn chạy đua với thời gian để hoàn thành công trình theo đúng tiến độ đảm bảo chất lượng và an toàn. Phương tiện, máy móc hiện đại đảm bảo thi công dự án Hồ chứa nước Bản Lải đảm bảo chất lượng, mỹ thuật cao. Đối với các công trình phụ trợ đã hoàn thành các hạng mục: Xây dựng nhà làm việc, nhà ở phục vụ thi công; lắp đặt và đưa vào sử dụng trạm trộn bê tông CVC, trạm trộn bê tông RCC và tuyến băng tải vận chuyển bê tông RCC đồng bộ; trạm biến áp đấu nối vào lưới điện phục vụ thi công; bãi đắp thử và thí nghiệm hiện trường bê tông đầm lăn và các công trình phụ trợ khác phục vụ thi công. Và các công trình chính cơ bản hoàn thành thi công các hạng mục vai phải bao gồm: Đập dâng RCC, cống dẫn dòng, tràn xả mặt khoang số 2, sân tiêu năng vai phải. Đập vai trái đã hoàn thành: Đắp đê quây thượng lưu, hạ lưu phục vụ dẫn dòng thi công; bê tông bản đáy đập vai trái; hoàn thành công tác khoan phun phục vụ đổ bê tông RCC vai trái, các công tác chuẩn bị phục vụ đổ bê tông RCC vai trái. Bên cạnh việc đảm bảo chất lượng, tiến độ công trình, công tác an toàn luôn được Sông Đà 5 coi trọng và kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả. Đội ngũ giám sát an toàn đã làm việc nghiêm túc, trách nhiệm nhằm kiểm soát tốt nhất nguy cơ mất an toàn lao động đồng thời nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật cho công nhân tại công trường. Nói về quá trình thi công dự án, ông Nguyễn Đắc Điệp - Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám đốc Sông Đà 5 cho biết: “Ban đầu dự án gặp khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng, song nhận được sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của Ban quản lý đầu tư xây dựng Thủy lợi 2 - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (chủ đầu tư) cũng như các nhà thầu và chính quyền địa phương tập trung tuyên truyền về ý nghĩa của công trình, kịp thời giải quyết các vướng mắc của nhân dân. Do vậy, đến thời điểm này, kế hoạch tiến độ của dự án đều đạt và vượt tiến độ đề ra với chất lượng, mỹ thuật công trình ở mức cao. Tại hội nghị Tổng kết công tác xây dựng cơ bản năm 2019, Sông Đà 5 đã được Cục Quản lý xây dựng công trình - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vinh danh là một trong những đơn vị thi công xuất sắc các dự án của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Giai đoạn tiếp theo Sông Đà 5 huy động nhân sự, vật tư, thiết bị và phương tiện để hoàn thiện công tác thi công; Thi công các hạng mục công trình chính vai trái bao gồm: Đập dâng RCC, Tràn tường ngực, Tràn xả mặt khoang 1, Cống lấy nước vai trái và sân tiêu năng vai trái đúng yêu cầu chất lượng, tiến độ và an toàn”. Công nhân Sông Đà 5 đang thi công dự án Hồ chứa nước Bản Lải luôn thực hiện đầy đủ bảo hộ lao động, đảm bảo an toàn. Chia tay cán bộ, công nhân trong tiết mưa xuân, se lạnh, bữa cơm giản dị đủ cả bánh chưng xanh, dưa hành, thịt mỡ; Nhà ở cán bộ công nhân viên tại dự án tuy đơn sơ nhưng có cành đào khoe sắc không khí Tết nơi công trường giữa rừng sâu núi thẳm thật ấm cúng như một gia đình. Cành đào rung rinh trong gió, báo hiệu một điềm lành đầu năm công trình sẽ thiên thời địa lợi, tô thêm truyền thống vẻ vang của Công ty luôn là đơn vị uy tín trong trong xây dựng công trình thủy điện, thủy lợi trọng điểm của đất nước. Kim Oanh
  • Lễ công bố và trao Quyết định công nhận Chủ tịch công đoàn Công ty cổ phần Sông Đà 5 khóa VIII nhiệm kỳ 2017 - 2022
    Lễ công bố và trao Quyết định công nhận Chủ tịch công đoàn Công ty cổ phần Sông Đà 5 khóa VIII nhiệm kỳ 2017 - 2022. Sáng 27/11/2019, tạiTrụ sởHà Nội, Công tycổ phần Sông Đà 5 đã long trọng tổ chức Lễcông bốvà traoQuyết định công nhận Chủ tịch công đoàn Công ty cổ phần Sông Đà 5 khóa VIII nhiệm kỳ 2017 – 2022 đối với Đồng chí Lê Thanh Sơn. Tham dự buổi lễ, Tổng công ty Sông Đà có đồng chí Phạm Văn Quản, Phó bí thư Đảng ủy, Thành viên Hội đồng quản trị, Chủ tịch công đoàn Tổng công ty; đồng chí Trần Anh Đức, Ủy viên BCH Đảng bộ Tổng công ty, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Sông Đà 5. Về phía Công ty cổ phần Sông Đà 5, với sự tham dự của các đồng chí Nguyễn Đắc Điệp – Bí thư đảng ủy, Thành viên Hội đồng quản trị - Tổng giám đốc Công ty; đồng chí Phạm Xuân Tiêng – Phó bí thư đảng ủy, Nguyên Chủ tịch Công đoàn Công ty; Bí thư Đoàn thanh niên, Trưởng ban nữ công, Trưởng/ phó phòng ban Công ty; Giám đốc/phó giám đốc Ban điều hành dự án, đại diện công đoàn bộ phận các dự án. Tại buổi lễ, thay mặt cho Công đoàn Tổng công ty Sông Đà, đồng chí Phạm Văn Quản đã công bố và trao Quyết định công nhận đồng chí Lê Thanh Sơn – Phó chủ tịch công đoàn, Phó phòng Hành chính nhân sự Sông Đà 5 giữ chức vụ Chủ tịch công đoàn Công ty cổ phần Sông Đà 5 khóa VIII, nhiệm kỳ 2017 - 2022. Đồng chí Phạm Văn Quản – Chủ tịch Công đoàn Tổng công ty, đồng chí Trần Anh Đức – Chủ tịch HĐQT Sông Đà 5 và đồng chí Nguyễn Đắc Điệp – Tổng giám đốc Sông Đà 5, đã lên tặng hoa chúc mừng đồng chí Lê Thanh Sơn Phát biểu tại buổi lễ - đồng chí Phạm Văn Quản nhiệt liệt chúc mừng những thành tích, kết quả mà Công đoàn Sông Đà 5 đã đạt được trong thời gian qua, đồng thời ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực của đồng chí Lê Thanh Sơn trong các hoạt động công đoàn tại Công ty cổ phần Sông Đà 5. Đồng thời, đồng chí Phạm Văn Quản cũng giao nhiệm nhiệm vụ cho tân Chủ tịch công đoàn Sông Đà 5, mong muốn trên cương vị mới, đồng chí Lê Thanh Sơn sẽ tiếp tục phát huy khả năng, trách nhiệm của mình để làm cầu nối cho tập thể người lao động với doanh nghiệp, đoàn kết cùng tập thể Ban Thường vụ và Ban Chấp hành Công đoàn Sông Đà 5tiếp tục hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, đóng góp hơn nữa vào thành tích chung của Công đoàn Tổng công ty. Thay mặt Ban Lãnh đạo Công ty, đồng chí Trần Anh Đức – Chủ tịch HĐQT Công ty đã chúc mừng đồng chí Lê Thanh Sơn và bày tỏ mong muốn với cương vị mới là Chủ tịch Công đoàn Sông Đà 5, đồng chí Lê Thanh Sơn sẽ làm cho Công đoàn Sông Đà 5 tiếp tục phát triển vững mạnh, giúp xây dựng một môi trường làm việc đoàn kết và lành mạnh để nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên Đồng chí Lê Thanh Sơn nhận nhiệm vụ, cảm ơn sự tín nhiệm của Công đoàn TCT, Ban lãnh đạo Sông Đà 5 cùng tập thể công đoàn viên, CBCNV Sông Đà 5 đã tin tưởng giao nhiệm vụ trọng trách với bản thân và cam kết bằng kinh nghiệm tích lũy qua 25 năm công tác, trải qua nhiều nhiệm vụ, thử thách tại các Ban điều hành dự án, cùng sự thấu hiểu chia sẻ với người lao động trên công trường sẽ tiếp tục không ngừng rèn luyện năng lực, nâng cao phẩm chất đạo đức để hoàn thành tốt nhiệm vụ giao, đáp ứng mong đợi của lãnh đạo Công ty và tập thể CBCN trong đơn vị và bày tỏ mong muốn tiếp tục nhận được quan tâm giúp đỡ của các cấp lãnh đạo và toàn thể đoàn viên, CBCN đơn vị để bản thân hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao phó. Trong khuôn khổ buổi lễ, đồng chí Phạm Văn Quản – Chủ tịch Công Đoàn TCT Sông Đà cũng trao hoa tri ân đối với đồng chí Phạm Xuân Tiêng – Nguyên Chủ tịch Công đoàn Công ty cổ phần Sông Đà 5 với những đóng góp to lớn của đồng chí đối với Công đoàn Sông Đà 5 trong những năm vừa qua. Kết thúc buổi lễ, đại diện các đoàn viên Công đoàn Sông Đà 5, Đoàn Thanh niên chúc mừng và chụp ảnh lưu niệm cùng đồng chí Lê Thanh Sơn. Nguồn: Sông Đà 5
  • Sông Đà 5 hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ thi công bê tông bê tông RCC bờ phải đảm bảo an toàn, tiến độ, chất lượng
    Ngày 23/11/2019, tại công trường dự án Hồ chứa nước Bản Lải, xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, Công ty cổ phần Sông Đà 5 đã long trọng tổ chức buổi lễ mừng công hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ thi công bê tông RCC bờ phải đảm bảo an toàn, tiến độ và chất lượng và phát động chiến dịch thi đua thi công bê tông RCC bờ trái nhằm đưa công trình về đích theo đúng kế hoạch. Tới tham dự buổi lễ có Cục trưởng Cục Quản lý Xây dựng – Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, về phía Chủ đầu tư có ông Trần Văn Lăng – Giám đốc Ban Quản lý đầu tư và Xây dựng thủy lợi 2 và toàn thể lãnh đạo, CBCNV của các Nhà thầu đang thi công công trình. Sau thành công của thủy điện Sơn La và thủy điện Lai Châu, thủy điện Nam Ngiep 1 tại Lào, Sông Đà 5 hoàn toàn tự tin làm chủ công nghệ sản xuất và thi công bê tông đầm lăn. Toàn bộ dây chuyền sản xuất vữa bê tông RCC và hệ thống băng tải vận chuyển bê tông của dự án Hồ chứa nước Bản Lải đều do trực tiếp những kỹ sư và công nhân kỹ thuật của Sông Đà 5 lắp đặt và vận hành. Phát huy năng lực và bề dày kinh nghiệm triển khai tổ chức thi công công trình và thi công đầm lăn thủy điện, trong thời gian 01 năm kể từ ngày khởi công, Sông Đà 5 đã hoàn thành các hạng mục Đập chính bê tông đầm lăn RCC vai phải, Cống dẫn dòng, Tràn xả mặt khoang số 3. Trên công trường, công tác an toàn luôn được Sông Đà 5 coi trọng và kiểm soát chặt chẽ và hiệu quả. Đội ngũ giám sát an toàn đã làm việc nghiêm túc, trách nhiệm nhằm kiểm soát tốt nhất nguy cơ mất an toàn lao động đồng thời nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật cho công nhân tại các công trường. Hiện nay Nhà thầu Liên danh Công ty cổ phần Sông Đà 5 tiếp tục huy động lực lượng và phương tiện để hoàn thiện công tác đắp đê quây thượng hạ lưu, đào hố móng bờ trái, tháo dỡ băng tải để chuyển tuyến phục vụ công tác thi công bê tông RCC vai trái và hoàn thiện công trình theo kế hoạch tiến độ đề ra. Nguồn: Sông Đà 5
  • Công ty CP Sông Đà 5 tổ chức Lễ kỷ niệm 89 năm ngày thành lập Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam.
    Ngày 19/10/2019 vừa qua, tại văn phòng trụ sở công ty cũng như tại các đầu cầu( trực tuyến) ban điều hành công trường các dự án trong nước và ngoài nước, Công ty Cổ phần Sông Đà 5 đã long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 89 năm ngày thành lập Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam (20/10/1930-20/10/2019) và Lễ tổng kết, trao giải chạy : “89 PN challenge” Đến tham dự buổi lễ có sự hiện diện của ông Nguyễn Đắc Điệp – Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám đốc Công ty, ông Phạm Xuân Tiêng – Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Công đoàn Công ty, các đồng chí trong BCH Công đoàn, Bí thư Đoàn Thanh niên, trưởng phòng công ty, các vận động viên đạt giải chạy “89 PN Challenge” và toàn thể các nữ cán bộ công nhân viên trong Công ty. Trải qua các thời kỳ, phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh luôn kiên cường bất khuất, là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến, phụ Nữ Việt Nam đã góp phần rất lớn vào công cuộc giải phóng đất nước, luôn xứng đáng với tám chữ vàng mà Bác Hồ kính yêu đã trao tặng: Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang. Sau khi đất nước được giải phóng, Người Phụ nữ Việt Nam vẫn luôn duy trì, phát huy những truyền thống và phẩm chất tốt đẹp “Giỏi việc nước , đảm việc Nhà”. Đối với các nữ cán bộ công nhân viên của Công ty CP Sông Đà 5 nói riêng, họ đã vươn lên làm chủ khoa học công nghệ, thông minh sáng tạo, đã và đang góp phần vào sự phát triển vững mạnh trong các giai đoạn từ khi thành lập Công ty Sông Đà 5 đến nay. Phát biểu tại Buổi lễ, ông Nguyễn Đắc Điệp - Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám đốc Công ty đã thay mặt Đảng Ủy và Ban lãnh đạo công ty ghi nhận và đánh giá cao sự nỗ lực và những đóng góp to lớn của các nữ cán bộ công nhân viên của Công ty CP Sông Đà 5. (Ông Nguyễn Đắc Điếp- Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám đốc Công ty lên phát biểu chúc mừng nhân ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10. Ông Nguyễn Đắc Điệp cũng thay mặt cho Ban lãnh đạo công ty gửi tặng những bó hoa tươi thắm và những lời chúc mừng tới toàn bộ nữ cán bộ công nhân viên của Công ty đồng thời bày tỏ sự tri ân sâu sắc tới toàn thể nữ cán bộ công nhân viên vì những đóng góp, xây dựng, phát triển Công ty cổ phần Sông Đà 5 nói riêng. Ông cũng bày tỏ mong muốn các nữ cán bộ công nhân viên tiếp tục nỗ lực, đồng hành xây dựng và phát triển công ty CP Sông Đà 5 ngày càng vững mạnh và thành công. (Ông Nguyễn Đắc Điệp – Bí thư Đảng ủy, TGĐ công ty lên tặng hoa cho đại diện nữ cán bộ công nhân viên của Công ty) Với ý nghĩa thiết thực chào mừng ngày thành lập Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam 20/10/1930 – 20/10/2019 đồng thời cũng tạo sân chơi bổ ích cho các CBCNV rèn luyện sức khỏe và chào mừng Đại hội các chi bộ, tiến tới Đại hội Đảng bộ Công ty lần thứ 9 (nhiệm kỳ 2020-2025). Ngày 18/9/2019, Ban chấp hành công đoàn Công ty đã chính thức phát động giải chạy “89 PN challenge”. Giải chạy đã thu hút gần 50 CBCNV tham gia. Giải chạy “89 PN challenge” đã diễn ra với chất lượng tốt, đúng quy chế, đảm bảo an toàn và chính thức khép lại lúc 21h ngày 18/10/2019. Cũng tại buổi Lễ, Ban tổ chức chương trình đã công bố và trao giải cho các cá nhân có những thành tích xuất sắc . Buổi lễ kỷ niệm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam 20/10 và Lễ tổng kết trao giải chạy “89 PN Challenge” đã khép lại và đọng lại biết bao niềm vui, niềm vui hân hoan của toàn thể các CBCNV công ty CP Sông Đà 5. Dưới đây là các hình ảnh về Lễ tổng Kết và Lễ Kỷ niệm của Công ty. (BLĐ công ty, BCH Công đoàn và các đ/c cán bộ trưởng, phó các phòng ban chụp ảnh lưu niệm cùng các Nữ CBCNV của công ty) BLĐ công ty, các Trưởng phó các phòng ban chụp ảnh lưu niệm cùng với các Vận động viên giải chạy “89 PN Challenge”) (Các vận động viên đạt giải chạy “89 PN challenge” cùng chụp ảnh lưu niệm) (Nguồn CP cổ phần Sông Đà 5)
Việt Nam - Lào ký kết 5 hợp đồng mua bán điện
TCCT - Lễ ký kết giữa Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cùng Tập đoàn Phongsubthavy (Lào) và Công ty TNHH Năng lượng Chaleun Sekong (Lào) diễn ra dưới sự chứng kiến của Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam Trần Tuấn Anh và Bộ trưởng Bộ Năng lượng và Mỏ Lào Khammany Inthirath. Nhân dịp kỳ họp lần thứ 42 Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác song phương Việt Nam - Lào tổ chức tại Hà Nội từ ngày 3-4/1/2020, chiều 4/1/2020, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đã có buổi làm việc với ông Khammany Inthirath - Bộ trưởng Bộ Năng lượng và Mỏ Lào và chứng kiến lễ ký kết hợp đồng mua bán điện giữa Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Tập đoàn Phongsubthavy, Lào, giữa EVN và Công ty TNHH Năng lượng Chaleun Sekong, Lào. Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh (bên phải) và Bộ trưởng Bộ Năng lượng và Mỏ Lào Khammany Inthirath (bên trái) Tham dự buổi làm việc song phương giữa hai Bộ trưởng, về phía Việt Nam, gồm có Lãnh đạo Văn phòng Bộ Công Thương, Vụ Thị trường châu Á - châu Phi, Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, Lãnh đạo Tập đoàn EVN và Tổng công ty Sông Đà 5. Về phía Lào, tham dự buổi làm việc và lễ ký có các cán bộ của Bộ Năng lượng và Mỏ Lào, Lãnh đạo Công ty TNHH Năng lượng Chaleun Sekong và Tập đoàn Phongsubthavy. Kết quả tích cực trong hợp tác năng lượng Việt - Lào Tại buổi tiếp, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh bày tỏ sự vui mừng khi được chào đón Bộ trưởng Khammany INTHIRATH tới Bộ Công Thương, cùng tham dự Lễ ký kết hợp đồng mua bán điện giữa các chủ đầu tư hai nước. Sự kiện này có ý nghĩa hết sức quan trọng, thực hiện đúng chủ trương về đẩy mạnh quan hệ hợp tác của Bộ Chính trị và Chính phủ hai nước. Trong khuôn khổ làm việc của hai Bộ Chính trị và Ủy ban liên Chính phủ, Lãnh đạo hai Bên đã nhấn mạnh, đồng thời khẳng định hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và Lào, cụ thể là hợp tác mua bán điện đã đi vào hiện thực. Hợp tác năng lượng nói chung và mua bán điện nói riêng đã làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước, là động lực mới mở rộng quy mô hợp tác hai Bên. Hai Bộ trưởng cho biết hợp tác Việt - Lào trong lĩnh vực năng lượng thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực Bộ trưởng Trần Tuấn Anhcho biết mô hình hợp tác “win-win” giữa hai Bên làm cơ sở để Chính phủ và cơ quan hai nước mở rộng hợp tác hơn nữa trong thời gian tới, theo tinh thần Thủ tướng hai Bên đã thống nhất tại Kỳ họp 42 Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác song phương giữa Việt Nam và Lào. Những kết quả tích cực trong hợp tác năng lượng đạt được nhờ sự chỉ đạo tập trung, quyết liệt giữa Bộ Công Thương Việt Nam và Bộ Năng lượng và Mỏ Lào, sự vào cuộc tích cực của các doanh nghiệp, chủ đầu tư của hai bên, đặc biệt là sự chỉ đạo sát sao của Bộ trưởng Bộ Năng lượng và Mỏ Lào. Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cũng gửi lời cảm ơn Bộ trưởng Năng lượng và Mỏ Lào đã thu xếp tới tham dự Lễ ký kếtmua bán điệnngày hôm nay, đồng thời khẳng định những cơ hội, dư địa hợp tác năng lượng còn nhiều ở phía trước, hy vọng hai Bên sẽ cùng đạt được những thành công mới trong thời gian tới. Bộ trưởng chúc mừng doanh nghiệp, chủ đầu tư hai Bên đã đàm phán, ký kết các hợp đồng vào dịp rất có ý nghĩa; cam kết sẽ chỉ đạo quyết liệt và sát sao vì mối quan hệ phát triển tốt đẹp giữa hai nước nói chung, trong lĩnh vực năng lượng và mỏ nói riêng. Doanh nghiệp đẩy mạnh hợp tác đầu tư Bộ trưởng Năng lượng và Mỏ Lào Khammany Inthirath gửi lời cảm ơn Bộ trưởng Trần Tuấn Anh đã tiếp đón nồng hậu. Bộ trưởng đánh giá cao Kỳ họp 42 lần này, cho rằng Kỳ họp đã đạt được nhiều thành công hơn các năm trước. Thay mặt Chính phủ, Nhân dân Lào, Bộ trưởng gửi lời cảm ơn nhân dân Việt Nam, Chính phủ Việt Nam,Bộ Công Thươngvà đặc biệt Bộ trưởng Trần Tuấn Anh. Trong thời gian qua, doanh nghiệp và chủ đầu tư đã ký kết được 8 hợp đồng mua bán điện và hôm nay ký được 5 hợp đồng mua bán điện. Bộ trưởng bày tỏ hi vọng rằng các dự án ký kết sẽ được triển khai có hiệu quả. Hợp đồng ký kết mua bán điện giữa EVN và 2 doanh nghiệp Lào là một trong những hợp tác có ý nghĩa quan trọng Bộ trưởng Khammany Inthirath cũng cho biết phía Lào hiện đang nghiên cứu khả thi 20 dự án, trong đó có các dự án điện có công suất cao. Hiện nay, phía Lào đang tập trung nguồn sản xuất, xây dựng đường dây Bắc Nam để trao đổi thương mại điện với các nước trong khu vực. Tại Kỳ họp 42 Ủy ban Liên Chính phủ về Hợp tác song phương Việt Nam - Lào, hợp tác năng lượng đã trở thành một nội dung hợp tác chính. Do vậy, trong thời gian tới, cơ quan cũng như doanh nghiệp và chủ đầu tư hai nước cần hợp tác chặt chẽ hơn nữa đểhợp tác năng lượng và mỏ giữa hai nước ngày càng được tăng cường, làm động lực phát triển kinh tế giữa hai nước. Hai Bộ trưởng giao Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, EVN và các cơ quan, doanh nghiệp liên quan của Lào tiếp tục tích cực phối hợp chặt chẽ để sớm hoàn thành công tác đàm phán của các dự án nhà máy thủy điện khác đã được chấp thuận chủ trương cũng như tiếp tục triển khai quyết liệt các công trình lưới điện để truyền tải điện từ các dự án trên về Việt Nam trong năm 2020. Thêm 5 hợp đồng mua bán điện được ký kết Kết thúc buổi làm việc, hai Bộ trưởng đã chứng kiến lễ ký kết hợp đồng mua bán điện giữa EVN và Tập đoàn Phongsubthavy, giữa EVN và Công ty TNHH Năng lượng Chaleun Sekong. Các hợp đồng này bao gồm: Hợp đồng mua bán điện đối với Nhà máy Thủy điện Nam Kong 2 (công suất 66 MW), Nam Kong 3 (công suất 54 MW) và Nhà máy Thủy điện Nam Emoun (công suất 129 MW) do ông Trần Đình Nhân - Tổng Giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Ông Chanthanome PHOMMANY - Chủ tịch Công ty TNHH Năng lượng Chaleun Sekong ký. Lễ ký kết Hợp đồng mua bán điện đối với Nhà máy Thủy điện Nam Kong 2, Nam Kong 3, Nam Emoun giữa EVN và Công ty TNHH Năng lượng Chaleun Sekong Hợp đồng mua bán điện đối với Nhà máy Thủy điện Nậm San 3A (công suất 69 MW) và Nậm San 3B (công suất 45 MW) thuộc Cụm Nhà máy Thủy điện Nậm Mô do ông Trần Đình Nhân - Tổng Giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Ông Phongsavath SENAPHUAN - Chủ tịch Tập đoàn Phongsubthavy (Lào) ký. Lễ ký kết Hợp đồng mua bán điện đối với Nhà máy Thủy điện Nậm San 3A, Nậm San 3B giữa EVN và Tập đoàn Phongsubthavy Các hợp đồng mua bán điện này ký kết và đi vào triển khai có ý nghĩa thiết thực triển khai chủ trương của Lãnh đạo cấp cao Việt Nam và Lào tăng cường quan hệ mua bán điện giữa hai nước và có ý nghĩa quan trọng đối với nhu cầu năng lượng để phát triển kinh tế của Việt Nam cũng như nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Lào trong thời gian tới. Trong năm 2019, Bộ Công Thương và Bộ Năng lượng và Mỏ Lào đã hợp tác chặt chẽ, đạt nhiều kết quả đáng khích lệ trong lĩnh vực mua bán điện giữa Việt Nam và Lào bao gồm: - Tháng 2/2019, Bộ Công Thương Việt Nam và Bộ Năng lượng và Mỏ Lào đã hoàn thành đàm phán và ký Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào về hợp tác phát triển các công trình năng lượng điện và mỏ nhân chuyến thăm chính thức của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. - Bộ Công Thương đã phối hợp với các Bộ, ngành báo cáo Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương nhập khẩu điện từ các dự án: nhà máy thủy điện (NMTĐ) Nam Kong 1, 2, 3 (Tỉnh Atapeu) và Nam Emoun (Tỉnh Sekong); Cụm NMTĐ Nậm Mô (Tỉnh Xiêng-khoảng), dự án Thủy điện Nậm Sum (Tỉnh Hủa Phăn). - Hai Bên đã tích cực triển khai đàm phán và đã thống nhất hợp đồng mua bán điện của phần lớn các dự án NMTĐ đã được phê duyệt chủ trương nhập khẩu bao gồm Nam Kong 2, 3, Nam Emoun, Nam Sun 3A, 3B) Thy Thảo
  • Mười sự kiện nổi bật của ngành Năng lượng Việt Nam năm 2019
    [NANGLUONGVIETNAM] Song hành với những thành tựu phát triển kinh tế ngoạn mục, trong năm qua ngành Năng lượng Việt Nam cũng có những điểm nổi bật cả về chính sách mới của Chính phủ, những thành công đáng ghi nhận ở tầm khu vực và cả những mối quan tâm lớn về đảm bảo an ninh cung cấp năng lượng trong dài hạn, khi mà lượng nhập khẩu than, dầu thô cùng tăng cao. Hành trình bước vào năm mới - 2020, sau khi phân tích, cân nhắc dữ liệu từ các chuyên ngành (điện, than, dầu khí, năng lượng tái tạo...), các chuyên gia Tạp chí Năng lượng Việt Nam đã bình chọn 10 sự kiện nổi bật, quan trọng của ngành Năng lượng Việt Nam năm 2019 để bạn đọc cùng tham khảo. 1/ Lần đầu tiên nhiệm vụ lập Quy hoạch tổng thể về năng lượng Việt Nam (thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050) được Chính phủ giao thực hiện. Với việc tổng kết đánh giá thực hiện Nghị quyết 18 của Ban chấp hành TW Đảng về chiến lược phát triển ngành năng lượng và những nét chính của Chiến lược phát triển năng lượng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 1743/ QĐ-TTg ngày 3/12/2019 giao Nhiệm vụ lập Quy hoạch tổng thể về năng lượng Việt Nam thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050. Nhiệm vụ này cũng được giao hầu như đồng thời với nhiệm vụ lập Quy hoạch điện giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Quy hoạch điện VIII). Việc lần đầu tiên lập Quy hoạch tổng thể về năng lượng Việt Nam thể hiện sự đáp ứng mong mỏi của nhiều chuyên gia, nhà quản lý ngành năng lượng lâu nay, về sự cần thiết cân đối, hài hòa, tương hỗ trong phát triển các phân ngành than, điện, dầu khí và năng lượng tái tạo của Việt Nam. 2/ Tổng công suất nguồn năng lượng tái tạo ( điện mặt trời , điện gió) vượt 5.000 MW, đứng đầu ASEAN. Với mốc thời gian năm 2013 Việt Nam chỉ có 46 MW điện gió và 4 MW điện mặt trời (ĐMT), thì đến năm 2019 Việt Nam đã có tổng cộng 5.039 MW công suất hai loại nguồn này, tăng 100 lần và chiếm tỷ lệ 9,2% tổng công suất đặt nguồn điện (bao gồm 274 MW điện gió và 4.765 MW ĐMT, trong đó 325 MW là ĐMT trên mái nhà). Theo ASEAN Post, hiện nguồn điện mặt trời của Việt Nam chiếm gần 44% khối ASEAN, vượt xa Thái Lan là nước đứng thứ 2 với 2.715 MW. Trong các nguồn ĐMT, công trình điện mặt trời nổi trên hồ Đa Mi với công suất 47,5 MWp cũng được đưa vào vận hành năm 2019. Đây là loại hình ĐMT tận dụng một phần nhỏ diện tích mặt hồ chứa công trình thủy điện - thủy lợi, làm tăng hiệu quả bức xạ nhiệt mặt trời do được hơi nước làm mát tấm pin, ngăn bớt sự bay hơi nước, tránh sử dụng đất đai và còn sử dụng phối hợp với lưới điện của nhà máy thủy điện, giảm chi phí đầu tư lưới truyền tải. Điện mặt trời nổi trên hồ Đa Mi cũng là công trình có quy mô chỉ đứng sau ĐMT nổi lớn nhất thế giới 150 MW tại tỉnh An Huy của Trung Quốc. 3/ Tổng công suất nguồn điện Việt Nam đạt mốc 54.880 MW, quy mô đứng thứ 2 khu vực ASEAN và thứ 23 trên thế giới . Trong cơ cấu nguồn, thủy điện chiếm tỷ lệ 30,8%, nhiệt điện than 36,1%, tua bin khí 13%, các nguồn điện dầu và khác 3,3%, nhập khẩu 1%. Đặc biệt, nguồn điện năng lượng tái tạo - NLTT (bao gồm thủy điện nhỏ, điện mặt trời, điện gió và điện sinh khối) đạt mốc 15,8%. Nếu theo cách thống kê thông lệ của các nước, NLTT bao gồm cả thủy điện lớn và vừa, thì Việt Nam có tỷ lệ công suất nguồn điện NLTT rất cao, chiếm tới trên 46%. Trong cơ cấu chủ sở hữu các nhà máy điện, EVN và các Genco (trực thuộc và cổ phần) chiếm 53,6%, còn lại là các chủ đầu khác và nhập khẩu. Kiểm điểm mấy thông số chính theo Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) cho thấy: Năm 2019 điện thương phẩm ước đạt 209,4 tỷ kWh, thấp hơn 2,17%; công suất cực đại đạt 38.250 MW (đạt xấp xỉ Quy hoạch điện VII - điều chỉnh là 38.415 MW); công suất nguồn thấp hơn 1% so với dự kiến 55.450 MW. Mặc dù một số nguồn điện lớn chậm tiến độ như: Nhiệt điện Thái Bình 2, Long Phú 1, Sông Hậu 2... nhưng các nguồn điện mặt trời, điện gió phát triển bùng nổ đã bù lại công suất. Tín hiệu đáng mừng là nguồn NLTT tăng, nhưng đáng lo là tình trạng lưới không theo kịp, gây quá tải, nguồn dự phòng thiếu ở miền Nam và công tác vận hành rất khó khăn. 4/ Dịch vụ điện trực tuyến cấp độ 4 của EVN được thực hiện tại Trung tâm hành chính công, hoặc Cổng thông tin dịch vụ công tại 63/63 tỉnh, thành phố trên cả nước. Theo đó, từ ngày 24/12/2019, khách hàng chỉ cần truy cập địa chỉ trang web: www.dichvucong.gov.vn để có thể đăng ký 12 dịch vụ điện năng: 1/ Cấp điện mới từ lưới điện trung áp. 2/ Cấp điện mới mới từ lưới điện hạ áp. 3/ Thanh toán tiền điện. 4/ Thay đổi công suất sử dụng điện/thay đổi loại công tơ 1 pha, 3 pha. 5/ Thay đổi vị trí thiết bị đo đếm. 6/ Thay đổi mục đích sử dụng điện. 7/ Thay đổi định mức sử dụng điện. 8/ Thay đổi chủ thể Hợp đồng mua bán điện. 9/ Thay đổi thông tin đã đăng ký. 10/ Thay đổi hình thức thanh toán tiền điện. 11/ Gia hạn Hợp đồng mua bán điện. 12/ Chấm dứt Hợp đồng mua bán điện. Với các dịch vụ điện này, khi thực hiện giao dịch qua Cổng dịch vụ công Quốc gia , mọi hồ sơ, thủ tục của khách hàng sẽ được đơn giản hóa và thuận tiện. Đây là một tiến bộ đáng ghi nhận của ngành công nghiệp nói chung và ngành điện lực nói riêng. Đồng thời năm 2019 cũng cho thấy 'Chỉ số tiếp cận điện năng' của Việt Nam đạt 88,2/100 điểm tăng 0,24 điểm so với năm 2018 và duy trì thứ hạng 27/190 quốc gia, nền kinh tế trên thế giới và thứ 4 khu vực ASEAN vượt trước 2 năm so với mục tiêu của Chính phủ. Sau 6 năm (2013-2019, chỉ số tiếp cận điện năng của Việt Nam cải thiện 129 bậc, là chỉ số có mức độ cải thiện nhiều nhất và là một trong 3 chỉ số có thứ hạng tốt nhất trong 10 chỉ số môi trường kinh doanh của Việt Nam. 5/ Khởi công Kho LNG đầu tiên của Việt Nam tại Thị Vải. Ngày 28/10/2019, tại xã Tân Phước, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS) đã tổ chức Lễ Khởi công xây dựng Công trình Kho chứa 1 triệu tấn LNG nhập khẩu tại Thị Vải. Dự kiến kho LNG Thị Vải sẽ cung cấp khí đốt hóa lỏng nhập khẩu cho các dự án nhà máy tua bin khí hỗn hợp (CCGT) Nhơn Trạch 3 và 4 với tổng công suất 1.500 MW. Dự án này đã nằm trong Quy hoạch tổng thể phát triển các kho cảng LNG trên toàn quốc, được Chính phủ phê duyệt vào năm 2014, nhưng bị chậm mấy năm vì nhiều lý do. Đây là mốc đánh dấu quan trọng đầu tiên về đa dạng hóa nguồn nhiên liệu năng lượng, tăng cường an ninh cung cấp năng lượng trong điều kiện Việt Nam đã trở thành quốc gia nhập khẩu tịnh năng lượng từ 2015. Cũng trong năm nay, Tập đoàn AES (Hoa Kỳ) đã được Chính phủ Việt Nam đồng ý cho triển khai đầu tư vào Nhà máy Điện khí Sơn Mỹ 2 (3 x 750 MW) và Kho cảng nhập khí hóa lỏng (LNG) Sơn Mỹ, dự kiến hoàn thành vào khoảng 2024 - 2025, tiếp tục đánh dấu cho việc LNG sẽ dần đóng vai trò đáng kể trong cơ cấu năng lượng của Việt Nam. 6/ Tổng kết 10 năm hoạt động thành công của Biển Đông 01. Dự án Biển Đông 01 xuất phát từ 2 lô dầu khí Hải Thạch - Mộc Tinh trước đây ký với các công ty nước ngoài. Sau này, 2 lô được hợp nhất lại do Công ty BP điều hành và Việt Nam có tham gia một phần nhỏ thông qua Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP). Năm 2009 PVN đã tiếp nhận lại Biển Đông 01 từ Công ty BP. Với sự dũng cảm, nỗ lực, được PVN chỉ đạo sát sao, Công ty Điều hành Dầu khí Biển Đông (BIEN DONG POC) và các nhà thầu là Tổng Công ty CP dịch vụ Dầu khí (PTSC), Liên doanh Việt Nga (Vietsopetro), Tổng Công ty Tư vấn Thiết kế Dầu khí (PVE), Tổng Công ty CP Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí (PV Drilling) đã triển khai đồng bộ tất cả các hoạt động thiết kế, chế tạo, xây dựng và khoan, tăng cường năng lực thiết kế và chế tạo, trình độ năng lực đội ngũ. Kết quả cụm giàn khai thác và xử lý tại mỏ Hải Thạch - Mộc Tinh, được chúng ta chế tạo, đã đáp ứng được tất cả các yêu cầu khắt khe nhất về kỹ thuật, an toàn tuyệt đối, hoàn toàn có thể cạnh tranh được ở lĩnh vực này trong khu vực và trên thế giới. Biển Đông 01 có nhiều đặc điểm nổi bật: Thứ nhất: Được đánh giá là hiệu quả nhất của PVN. Trong 10 năm qua khai thác tuyệt đối an toàn hơn 10 tỷ m3 khí và hơn 17 triệu thùng condensate; tổng doanh thu đã đạt hơn 2,8 tỷ USD trên tổng mức đầu tư và chi phí vận hành cho tới thời điểm hiện nay là hơn 2,9 tỷ USD. Thứ hai: Đây là công trình dầu khí hoàn toàn do người Việt Nam thiết kế, xây lắp và vận hành. Thứ ba: Ở cách xa đất liền nhất (320 km tính từ Vũng Tàu). Thứ tư: Khai thác dầu - khí ở độ sâu nhất (145 mét nước). Thứ năm: Cấu tạo địa chất ở hai mỏ này là phức tạp và khó khăn nhất thế giới - Chưa một công ty dầu khí nào dám khai thác khí và dầu ở độ sâu gần 4.000 mét, có áp suất 850 atmosphere và nhiệt độ đến 1.750C. Thứ sáu: Có khối lượng thiết bị xây lắp lớn nhất từ trước tới nay (tổng trọng lượng của hai giàn khai thác Hải Thạch và Mộc Tinh và một giàn xử lý khí là 70 ngàn tấn). 7/ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam được nhất trí giao nhiệm vụ Thư ký ASCOPE giai đoạn 2019-2024. Kỳ họp lần thứ 45 Hội đồng Dầu khí ASEAN (ASEAN Council on Petroleum - ASCOPE) đã được Tập đoàn Dầu khí Việt Nam chủ trì tổ chức thành công tại Hà Nội ngày 29 tháng11 năm 2019. Đây là diễn đàn của các nhà lãnh đạo cấp cao của các công ty dầu khí ASEAN về các chủ đề mang tính thời sự như: Chuyển đổi năng lượng toàn cầu, thách thức cho phát triển bền vững và giải pháp để thúc đẩy chuyển đổi năng lượng vì sự phát triển bền vững. Chủ đề chính của Kỳ họp năm nay là “Hợp tác khu vực vì sự phát triển bền vững”. Tham dự Kỳ họp là người đứng đầu các công ty dầu khí/cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí của 10 quốc gia thành viên ASEAN. Lần đầu tiên trong lịch sử, PVN được nhất trí giao nhiệm vụ Thư ký ASCOPE giai đoạn 2019-2024 , thể hiện sự tin tưởng và hỗ trợ của tất cả các quốc gia thành viên. 8/ Triển khai chuỗi dự án đường ống dẫn khí Sao Vàng Đại Nguyệt và Nam Côn Sơn 2 giai đoạn 2 (NCS2). Có 2 dự án song song trong chuỗi dự án này đã triển khai các phạm vi công việc từ tháng 10 năm nay: Thứ nhất, dự án thu gom, vận chuyển khí mỏ Sao Vàng - Đại Nguyệt, gồm đường ống từ giàn nén Sao Vàng kết nối với đường ống NCS2 hiện hữu, đồng thời kết nối với mỏ Thiên Ưng - Đại Hùng nhằm thu gom, vận chuyển khí các mỏ Sao Vàng - Đại Nguyệt và Thiên Ưng - Đại Hùng về NCS2. Thứ hai, đường ống dẫn khí NCS2 giai đoạn 2 là tuyến ống 118 km đấu nối với đoạn đường ống giai đoạn 1 đã hoàn thành năm 2015 để hoàn chỉnh đường ống Nam Côn Sơn 2, đưa khí các mỏ vừa kể tên về bờ kết nối với nhà máy xử lý khí. Dự kiến khi hoàn thành công trình vào cuối quý III/2020, sẽ đưa sản lượng khí khoảng 2-3 tỷ m3/năm vào bờ, bổ sung nguồn khí cho khu vực Đông Nam bộ. Chuỗi dự án đường ống dẫn khí NCS2 và Sao Vàng Đại Nguyệt có vai trò quan trọng trong nhiệm vụ phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng ngành công nghiệp khí Việt Nam, đồng thời bổ sung nguồn khí đốt đáng kể trong lúc nhiều mỏ khí hiện hữu đang trong giai đoạn suy giảm nhanh. 9/ Nhập khẩu than và dầu mỏ tăng cao đột biến, qua đó cho thấy sự phụ thuộc ngày càng tăng của Việt Nam vào nhập khẩu năng lượng. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam đã vượt qua mức ước tính ban đầu là 6,6% - 6,8%, lên đến 7,02%, kéo theo tăng trưởng về nhu cầu năng lượng, đặc biệt là nhu cầu than và dầu mỏ. Sản lượng than nguyên khai đạt thấp so với Quy hoạch than điều chỉnh 403/2016 được phê duyệt theo Quyết định số 403/2016/QĐ-TTg ngày 14/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là một trong những nguyên nhân chính làm cho sản lượng than nhập khẩu tăng cao đột biến. Tổng cộng sản lượng than nguyên khai toàn ngành năm 2019 ước đạt đạt 47,3 triệu tấn, trong đó sản lượng than hầm lò khoảng 28 triệu tấn, chiếm khoảng 59,2%. Như vậy, so với Quy hoạch than điều chỉnh 403/2016, sản lượng than nguyên khai toàn ngành giảm 9 triệu tấn, trong đó hầm lò giảm hơn 6 triệu tấn. Nguyên nhân chính làm cho sản lượng than không đạt mục tiêu sản lượng của Quy hoạch 403 là do tài nguyên, trữ lượng than trong thực tế không có đủ như dự kiến trong QH 403. Nhập khẩu than, trong 10 tháng đầu năm 2019 đã tăng hơn gấp đôi so với năm 2018 lên 36,8 triệu tấn. Ước tính cả năm 2019 sản lượng than nhập khẩu sẽ đạt khoảng 42-44 triệu tấn, vượt mốc sản lượng than nhập khẩu 40,3 triệu tấn đề ra cho năm 2020 trong Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030. Như vậy, từ năm 2019 sản lượng than nhập khẩu cân bằng với sản lượng than khai thác trong nước trên thị trường than nội địa, đánh dấu bắt đầu một giai đoạn mới của thị trường than nội địa sẽ nghiêng dần về than nhập khẩu. Theo đó việc sản xuất và tiêu thụ than sẽ tuân thủ nghiêm ngặt hơn cơ chế thị trường. Nhập khẩu dầu thô đã tăng 80,6% so với cùng kỳ, lên 6,8 triệu tấn trong giai đoạn 10 tháng vừa qua. Ước tính cả năm sản lượng dầu thô nhập khẩu đạt trên 8 triệu tấn. 10/ Chương trình Quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019 - 2030 (VNEEP 3). Nhận thức tầm quan trọng về tiết kiệm năng lượng, an ninh năng lượng, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững, Việt Nam đã tích cực triển khai các Chương trình mục tiêu Quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả (VNEEP). Theo đó, Chương trình VNEEP 1 (giai đoạn 2006 - 2010) mức tiết kiệm năng lượng đạt được là 3-4%, tương đương 4,9 triệu TOE; Kết quả của Chương trình VNEEP 2 (giai đoạn 2012 - 2015) mức tiết kiệm năng lượng đạt được là 5,65%, tương đương với 11,2 triệu TOE. Nhiều năm qua, các chuyên gia ngành năng lượng đã phân tích, đánh giá rằng: Tiết kiệm được 1 đơn vị năng lượng tiêu thụ có thể giảm được gánh nặng đầu tư cho nhà nước và xã hội để sản xuất ra 3-4 đơn vị năng lượng, đồng thời hình thành - nâng cao văn hóa, thói quen sử dụng tiết kiệm - hiệu quả năng lượng cho mọi doanh nghiệp, người dân, hướng tới sự phát triển bền vững. Với việc kiểm điểm, đánh giá kết quả các Chương trình VNEEP 1 và VNEE 2, nhận định những tiềm năng trong lĩnh vực này còn lớn, cần thiết có chính sách thúc đẩy thêm việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong tình hình Việt Nam đã chuyển thành quốc gia nhập khẩu tịnh năng lượng từ năm 2015, ngày 13/3/2019, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 280/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (giai đoạn 2019 - 2030). Mục tiêu của VNEEP 3 là:Đạt mức tiết kiệm năng lượng từ 5 - 7% tổng tiêu thụ năng lượng thương mại toàn quốc (trong giai đoạn từ 2019 - 2025), trong đó giảm mức tổn thất điện năng xuống thấp hơn 6,5%;Đạt mức tiết kiệm năng lượng từ 8 - 10% tổng tiêu thụ năng lượng thương mại toàn quốc (trong giai đoạn 2019 - 2030), trong đó giảm mức tổn thất điện năng xuống thấp hơn 6%. Trong VNEEP 3 đã quy định các chỉ tiêu giảm tiêu hao năng lượng trong nhiều phân ngành kinh tế theo các giai đoạn nêu trên, đồng thời cũng chỉ ra các nhiệm vụ chủ yếu của Chương trình, huy động kinh phí thực hiện; còn các giải pháp thực hiện Chương trình được giao cụ thể cho các bộ, ngành, các địa phương, cũng như các tổ chức sử dụng năng lượng và kêu gọi trách nhiệm của cả cộng đồng./. HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
  • Một năm
    Ồ ạt chạy dự án trước 30/6 để hưởng ưu đãi nhưng sau vạch đích, điều chờ đón các nhà đầu tư là chuỗi ngày mòn mỏi đợi chính sách. Chạy cho kịp mốc 30/6 Ông Thành - chủ một doanh nghiệp năng lượng tại Hà Nội, người có kinh nghiệm đầu tư làm thuỷ điện trước đây - khá tự tin khi quyết định rót vốn vào điện mặt trời cuối năm 2018. Các thủ tục tiến hành sau đó khá thuận lợi, dự án kịp bổ sung vào quy hoạch điện, ký được PPA (hợp đồng mua bán điện). Ông Thành cũng như nhiều chủ đầu tư khác đã ồ ạt đổ tiền vào điện mặt trời để mong được hưởng chính sách giá là 9,35 cent một kWh trong 20 năm, theo Quyết định 11/2017. Vấn đề là quyết định này chỉ có hiệu lực đến ngày 30/6/2019. Sau ngày này, giá điện mặt trời sẽ thấp hơn. Một "cánh đồng"điện mặt trời tại Ninh Thuận được chủ đầu tư kịp đưa vào vận hành thương mại trước 30/6.Ảnh: Quỳnh Trần. Vì thế, các dự án điện mặt trời khi ấy chạy đua trước mốc 30/6 tới mức, Trung tâm Điều độ hệ quốc gia (A0) cho biết, cuối tháng 6 họ phải lập tổ công tác đóng điện mặt trời, nhân lực chia 3 ca, 5 kíp để phối hợp liên tục giữa các trung tâm điều độ các miền. 5.000- 6.000 tin nhắn được A0 trao đổi với các chủ đầu tư điện mặt trời mỗi ngày, liên tục từ 6h đến 0h hôm sau. 3-4 nhà máy điện mặt trời được đóng điện mỗi ngày, để số này kịp vận hành trướcngày 30/6. Số nhà máy đưa vào vận hành đồng loạt trong một thời gian ngắn là điều mà theo một lãnh đạo EVN thừa nhận, "chưa từng có trong lịch sử" ngành điện. Số nhà máy điện mặt trờivận hành tăng lên nhanh chóng trong 3 tháng đầu năm 2019.Đồ hoạ:Tạ Lư. Năm 2018, 3 nhà máy đóng điện thành công, con số này tăng lên gần 30 lần sau 6 tháng, tập trung rầm rộ vào tháng 4 và 6/2019, với công suất lắp đặt xấp xỉ 4.500 MW. Riêng tháng 6, tháng cuối cùng trước khi Quyết định 11 hết hiệu lực, có thêm 49 dự án vận hành. Đồng loạt các nhà máy vận hành trong thời gian ngắn cũng kéo theo hệ luỵ quá tải lưới truyền tải một số khu vực, điển hình là Bình Thuận, Ninh Thuận. Điển hình Trục đường dây 110kV Tháp Chàm - Hậu Sanh - Tuy Phong - Phan Rí quá tải tới 260-360%... Các nhà máy năng lượng tái tạo ở các khu vực này phải giảm phát ở từng thời điểm để vận hành an toàn hệ thống. Điện mặt trời là loại năng lượng mới, bổ sung thêm nguồn cho hệ thống điện quốc gia trong bối cảnh thiếu nguồn cung, nhưng sản lượng chỉ chiếm khoảng 2% điện sản xuất từ đầu năm đến nay. Bình quân mỗi ngày sản lượng điện mặt trời huy động dao động 25-27 triệu kW. 'Phanh' gấp chờ chính sách giá, quy hoạch Giai đoạn bùng nổ qua đi, sự trầm lắng trở lại trên các công trường dự án điện mặt trời lỡ hẹn với mốc 30/6. Theo số liệu cập nhật của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), từ 1/7 đến nay chỉ có 2 dự án điện mặt trời hoàn tất điều kiện vận hành thương mại (COD), là Nhà máy Hacom Solar (40,3 MW) và Solar Park 01 (40 MW). So với hơn 4.000 MW điện mặt trời được đưa vào hệ thống từ tháng 4 đến hết tháng 6/2019, đã có sự chững lại về số lượng. Hai lý do được các nhà đầu tư đưa ra, là chưa có giá mua điện mặt trời mới sau ngày 1/7 và "độ vênh" giữa quy hoạch nguồn và lưới điện truyền tải. Thậm chí, có 39 dự án đã ký xong PPA, đang thi công dở dang nhưng "lên được lưới hay không thì phải chờ". Điều họ chờ đợi chính là cơ chế giá rõ ràng cho giai đoạn sau ngày 30/6 và đến giờ sau nửa năm vẫn chưa ngã ngũ. Lượng lớn dự án vận hành cuối tháng 6 đã khiến các trạm biến áp, đường dây quá tải tại một số khu vực. Đồ hoạ:Tạ Lư Một chuyên gia tư vấn cho các dự án năng lượng tái tạo cũng không khỏi sốt ruột. Ông kể, có dự án đã từng được thông báo đưa vào quy hoạch điện nhưng sau "bặt tăm" vì vướng Luật Quy hoạch mới có hiệu lực từ 1/1/2019. Với dự án năng lượng, lãi vay thường chiếm 60-70% vốn đầu tư. Với lãi suất phổ biến 10-11% một năm hiện nay, dự án dừng ngày nào, chủ đầu tư như ngồi trên đống lửa ngày đó. "Nhà đầu tư vẫn bày tỏ mong muốn đi tới cùng dự án, nhưng gần một năm mọi thứ đều dừng vì chờ quy hoạch, chờ giá, không biết họ có thể trụ thêm được hay không", vị này chia sẻ. Thực tế, từ tháng 6, Bộ Công Thương đã đưa ra dự thảo giá điện mặt trời mới áp dụng sau ngày 30/6 với đề xuất chia 4 vùng giá theo mức bức xạ nhiệt. Sau nhiều góp ý, phương án đưa ra được "gút" lại còn 2 mức giá. Thế nhưng đây vẫn chưa phải kịch bản cuối cùng. Ở lần đề xuất sau đó, Bộ Công Thương lại chỉ chọn một mức giá cho tất cả vùng, 1.620 đồng một kWh, thấp hơn nhiều so với mức giá ưu đãi áp dụng trước tháng 7/2019. Rồi sau đó, Bộ Công Thương lại đổi phương án sau khi được Chính phủ yêu cầuhoàn thiện phương án đấu thầu điện mặt trời, tương tự cách Campuchia triển khai. Đấu thầu không phải 'phép màu' Theo tờ trình mới nhất Bộ Công Thương gửi Chính phủ, các dự án đã có hợp đồng mua bán điện và đang thi công dở dang như dự án của ông Thành tại Bình Phước, vẫn được áp dụng giá mua điện cố định (7,09 cent một kWh), thấp hơn nhiều giá 9,35 cent một kWh như trước ngày 30/6. Các dự án còn lại chưa thi công, kể cả đã được bổ sung quy hoạch sẽ phải thông qua đấu thầu giá điện. Nhà chức trách đề xuất thí điểm đấu thầu trong năm 2020 với quy mô công suất 50-100 MW. EVN được đề nghị là đơn vị đầu mối xây dựng phương án và kế hoạch tổ chức đấu thầu theo Luật Đấu thầu, báo cáo Bộ xem xét và Thủ tướng phê duyệt trong quý I/2020. "Đấu thầu điện mặt trời lúc này là chưa khả thi", ông Nguyễn Hữu Vinh – Tổng giám đốc Công ty cổ phần Hà Đô Ninh Thuận đánh giá. Ông Vinh dẫn quy định Luật Đấu thầu, muốn đấu giá phải có mặt bằng đất sạch, và muốn vậy phải có quy hoạch. Kinh nghiệm các nước cho thấy, thời gian đấu thầu cũng mất 2 năm. Với quy trình đấu thầu như vậy, muốn dự án vào nhanh, có thêm nguồn cũng cực kỳ khó. Chưa kể, đấu thầu để đảm bảo mục tiêu minh bạch, công khai là tốt, nhưng yêu cầu trước mắt là phải đủ điện. "Hơn 10 tháng nay, tất cả quy hoạch đều bị dừng lại. Bao giờ có quy hoạch thì mới triển khai công tác giải phóng mặt bằng, có đất sạch bàn giao thì chủ đầu tư mới có cơ sở để thực hiện dự án mời thầu. Mà với thực tế lưới điện hiện nay sẽ không có nhiều dự án đấu thầu thành công, chưa nói các khó khăn pháp lý liên quan", ông Vinh nhận định. Trong khi đó, ông Nguyễn Văn Ngọc – Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần phát triển năng lượng Sơn Vũ cũng nói "chưa thể triển khai đấu thầu điện mặt trời lúc này". Với Campuchia, để có được mức giá 3,877 cent một kWh (800-900 đồng) sau đấu giá, Nhà nước phải bàn giao mặt bằng sạch cho nhà đầu tư, làm đường dây truyền tải, trạm biến áp và dự án được vay hỗ trợ lãi suất thấp của Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB). Còn với Việt Nam khi còn khó khăn về bàn giao đất sạch, hạ tầng lưới truyền tải chưa sẵn sàng tới "tận chân công trình"... cho chủ đầu tư, ông Ngọc nói, khó có thể phát điện thành công ở quy mô nghìn MW trong 2-3 năm tới qua đấu thầu. Việc đưa ra một cơ chế thu hút mới, tránh tắc nghẽn cục bộ như vừa qua ông Ngọc cho rằng cần thiết, song "đấu thầu không phải là giải pháp duy nhất hãm phanh điện mặt trời". Trước thực tế gần một năm không tiến triển trong triển khai dự án, một nhóm nhà đầu tư có dự án đầu tư dở dang vừa cùng ký tên vào văn bản gửi Thủ tướng, đề nghị được bổ sung dự án của mình vào quy hoạch điện. Họ cũng đề nghị cho phép các dự án nêu trên được áp dụng theo cơ chế giá mua điện FIT song song với việc hoàn thiện cơ chế và thí điểm việc đấu thầu. Các nhà đầu tư cũng bày tỏ mong muốn Chính phủ cần sớm có cơ chế mới về điện mặt trời để khẳng định cam kết về sự an toàn, nhất quán và ổn định môi trường đầu tư kinh doanh. Và trong lúc cơ chế giá mới cho điện mặt trời chưa ngã ngũ, ông Thành và các chủ đầu tư khác sẽ tiếp tục chờ. "Mọi việc cứ ách lại. Không có giá không làm gì được. Chúng tôi đang rất mông lung", ông Thành nói. Anh Minh (Vnexpress)
  • Người Việt làm thủy điện lớn nhất Đông Nam Á
    Hơn mười năm trước, Thủy điện Sơn La được các chuyên gia, kỹ sư, công nhân trẻ tự lực xây dựng, hoàn thành trước dự kiến ba năm. Thủy điện Sơn Lanằm trên địa bàn xã Ít Ong (Mường La, Sơn La), được khởi công từ năm 2005 đến 2012 hoàn thành. Nhà máy thủy điện được thiết kế kiểu hở, bố trí sau thân đập. Giai đoạn thi công cao điểm huy động tới 13 nghìn người. Để thi công nhà máy hơn 20.000 hộ dân của ba tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu phải di dời. Đập bê tông có chiều dài 961m, cao 138 m, rộng 102 m ngăn sông Đà để tạo thành hồ chứa 9,3 tỷ m3 nước.Công trình có tổng mức đầu tư khoảng 60.000 tỷ đồng, cấp sản lượng điện trung bình hàng năm là hơn 10 tỷ kWh và đảm nhiệm chống lũ về mùa mưa, cung cấp nước về mùa khô cho đồng bằng Bắc Bộ. Sáu cửa xả mặt kéo từ trên nóc con đập xuống dòng sông cùng 12 cửa xả sâu. Phần đập dâng có mái, thành từng bậc kiên cố.Móng của thủy điện đặt trên nền đá bazan vững chắc về địa chất. Kết cấu đập bê tông trọng lực cao 138,1 m; chiều dài đỉnh đập 961,6 m, cao gần 90m, sử dụng công nghệ bê tông đầm lăn hiện đại nhất thời bấy giờ. Khu cửa nhận nước phía thượng lưu có 6 ống bằng thép khổng lồ xuyên qua đập dẫn nước vào tuabin của nhà máy. Thủy điện Sơn La là công trình có nhiều thiết bị quan trắc nhất, chia thành 7 mặt cắt, 1.028 cảm biến có nhiệm vụ khác nhau. Đặc biệt, 11 thiết bị đo địa chấn đặt tại các vị trí trọng yếu để thường xuyên kiểm tra thông tin an toàn đập. Sáu máy biến áp có trọng lượng 280 tấn. 18 kiện của máy biến áp siêu trường siêu trọng từng trải qua cuộc di chuyển khó khăn về tới công trường an toàn, đúng tiến độ. Một Xí nghiệp cơ khí tại Việt Nam đã lần đầu sản xuất chiếc cẩu siêu trường siêu trọng 1.200 tấn (chi phí rẻ bằng 1/3 so với mua ở nước ngoài) để đưa rotor có trọng lượng 1.000 tấn, đường kính 15,8 m, chiều cao 3,2 m - kết cấu nặng nhất trong các thiết bị lắp đặt tại công trường, cũng là rotor nặng nhất trong các nhà máy thuỷ điện của Việt Namvào đúng vị trí của tổ máy với sai số 3cm. Sáu tổ máy, sử dụng turbin trục đứng, đường kính bánh xe 8,5 m. Thủy điện Sơn La là nhà máy đầu tiên ở Việt Nam sử dụng thiết bị tự động hóa nên tại mỗi phòng chức năng chỉ cần một đến hai kỹ sư giám sát. Việc duy trì vận hành nhà máy được kết nối trực tiếp với Trung tâm điều khiển. Điểm nhấn công nghệlà hệ thống truyền đóng cắt truyền dẫn kín, cho phép truyền dẫn dòng diện 500 kV vận hành trong không gian nhỏ. Thủy điện Sơn La đã phát điện tổ máy số một vào ngày 25/12/2010, sớm hơn hai năm so với yêu cầu của Quốc hội. Toàn bộ nhà máy đưa vào vận hành sớm 3 năm đồng nghĩa với việc cung cấp cho nền kinh tế ngoài kế hoạch 30 tỷ kWh, tương đương giá trị 1,5 tỷ USD. Ngọc Thành
  • Đánh giá hiện trạng triển khai các dự án điện trọng điểm
    Ngày 11/11, Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh đã triệu tập cuộc họp khẩn với các đơn vị có liên quan để đánh giá hiện trạng, đồng thời đề ra giải pháp cấp bách nhằm tháo gỡ khó khăn cho các dự án điện trọng điểm. Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh họp với các đơn vị liên quan để đánh giá hiện trạng, đồng thời đề ra giải pháp cấp bách nhằm tháo gỡ khó khăn cho các dự án điện trọng điểm. Cuộc họp được tổ chức ngay sau khi kết thúc phiên chất vấn tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XIV cho thấy, Bộ Công Thương đã nghiêm túc tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội và ý kiến của các đại biểu với tinh thần cậu thị, trách nhiệm nhằm triển khai ngay các giải pháp đảm bảo điện cho phát triển kinh tế - xã hội. Nhìn nhận thực tế, Việt Nam đang phải đối mặt với nguy cơ thiếu điện cao trong 2019-2020 và kéo dài tới 2022-2023, nguy cơ không có dự phòng ở vùng phụ tải cao như Tây Nam Bộ là rất lớn, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nhấn mạnh: Tình hình đang rất cấp bách và chúng ta không thể chậm trễ hơn được nữa. Trong các báo cáo gửi Chính phủ, Quốc hội, Bộ Công Thương nêu thực tế do điều kiện bất lợi thời tiết với tính cực đoan cao, các thuỷ điện không đủ tích nước, khiến Việt Nam đối mặt suy giảm thị trường năng lượng sơ cấp khi dự báo sẽ phải nhập 20 triệu tấn than vào 2020 và tăng lên 35 triệu tấn than vào 2035. Nguồn khí cũng không đủ phục vụ phát điện cho dự án ở Đông Nam Bộ. Các năm 2019-2020 hệ thống điện có thể đáp ứng nhu cầu điện cho phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, do hệ thống điện gần như không có dự phòng nguồn điện nên trong năm 2020 có thể đối mặt nguy cơ thiếu điện. Các năm 2021-2025, mặc dù đã phải huy động tối đa các nguồn điện chạy dầu, tuy nhiên hệ thống điện không đáp ứng nhu cầu phụ tải và xảy ra tình trạng thiếu điện tại miền Nam với mức thiếu hụt tăng từ 3,7 tỷ kWh (năm 2021) lên gần 10 tỷ kWh (năm 2022), mức thiếu hụt cao nhất vào năm 2023 khoảng 12 tỷ kWh, sau đó giảm dần xuống 7 tỷ kWh năm 2024 và 3,5 tỷ kWh năm 2025. Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nhấn mạnh: Bộ Công Thương là cơ quan đầu mối về năng lượng, tham mưu cho Chính phủ xây dựng tổng sơ đồ. Bộ đã có nhiều hoạt động cụ thể để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Thời gian qua còn nhiều dự án chậm tiến độ, gây nguy cơ thiếu điện, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, tác động đến đời sống dân sinh. Do vậy, yêu cầu các các đơn vị, cơ quan liên quan rà soát lại khuôn khổ pháp lý, báo cáo, có biện pháp cụ thể xử lý ngay các vướng mắc đối với các dự án chậm tiến độ. Bộ trưởng yêu cầu các đơn vị cần đánh giá cụ thể từng dự án, vướng mắc ở đâu, khó khăn chỗ nào, khả năng đáp ứng được tiến độ đến đâu. Trong trường hợp không đáp ứng được về mặt tiến độ thì giải pháp nào thay thế là gì, nếu nhập khẩu điện thì nhập khẩu ở nguồn nào, giá cả ra sao, khả năng đấu nối ra sao? Nếu sử dụng năng lượng tái tạo điện mặt trời, điện gió để thay thế thì khả năng đáp ứng được đến đâu, có những vướng mắc khó khăn hay cần phải điều chỉnh cơ chế, chính sách gì... Bộ trưởng đề nghị Ban Chỉ đạo quốc gia về phát triển điện lực trực tiếp theo dõi, giám sát chỉ đạo, chịu trách nhiệm làm đầu mối phối hợp với Uỷ ban quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp tập trung giải quyết vướng mắc, nhất là về vốn, nguồn ngoại tệ. Đồng thời phải có chương trình làm việc hàng tháng để rà soát và thống nhất giải pháp thực hiện liên quan tới dự án chậm tiến độ, có kịch bản cho từng tình huống… như vậy mới có thể hoàn thành nhiệm vụ và yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ. “Bộ Công Thương sẽ có báo cáo cụ thể với Chính phủ về nguy cơ thiếu điện, đưa ra các giải pháp về cơ chế để giải quyết. Chúng ta cần làm ngay, cấp bách lắm rồi và không thể chậm trễ”, người đứng đầu ngành Công Thương nhấn mạnh./. TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
  • Tìm nguồn cung điện cho những năm tới
    (ĐTTCO) - Hàng loạt dự án chậm tiến độ, nhiên liệu “bấp bênh” do phụ thuộc nhập khẩu khiến trong vòng 5 năm tới dự báo cả nước sẽ thiếu khoảng 12 tỷ kWh điện. Theo Bộ Công thương, với kịch bản tăng trưởng GDP bình quân 7%/năm, nhu cầu năng lượng cho năm 2020 phải đạt 235 tỷ kWh điện; đến năm 2025 cần 352 tỷ kWh và năm 2035 là 506 tỷ kWh. Chạy dầu giá cao,điện vẫn thiếu Tính đến nay, công suất nguồn điện Việt Nam có khoảng 54.000MW, bao gồm cả các loại năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời mới đưa vào hoạt động. Để đáp ứng nhu cầu điện của năm 2020 cần khoảng 60.000MW công suất nguồn, đến năm 2030 cần 130.000MW. Trong khi đó, hiện tổng công suất nguồn điện của Việt Nam đã gần như không còn dự phòng, nhiều dự án theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh đều chậm tiến độ. Theo Cục Điều tiết điện lực, nếu như năm 2015-2016, hệ thống điện dự phòng đạt khoảng 20% - 30% thì đến 2018-2019, hầu như không còn điện dự phòng nên sang giai đoạn 2021-2025 nguy cơ xảy ra tình trạng thiếu nguồn cấp điện là rất lớn, nhất là khu vực miền Nam. Điện gió cung ứng điện tại tỉnh Bạc Liêu Ảnh: CAO THĂNG Nguyên nhân chính dẫn tới việc thiếu điện tại miền Nam là do tiến độ các dự án điện khu vực này bị chậm so với kế hoạch 5 - 10 năm! Về các dự án năng lượng tái tạo, đến nay đều tập trung ở nơi có phụ tải thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu truyền tải, hạ tầng lưới điện 110 - 500kV. Chưa kể, các dự án đường dây 220 - 500kV cũng đang gặp khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng, đền bù… Theo tính toán, với các dự án nguồn điện đưa vào vận hành năm 2019-2020, có thể đáp ứng được nhu cầu điện toàn quốc. Tuy nhiên, cần huy động thêm nguồn nhiệt điện chạy dầu với sản lượng tương ứng 1,7 tỷ kWh vào năm 2019 và 5,2 tỷ kWh vào năm 2020. “Trong trường hợp các tổ máy phát điện không đáp ứng yêu cầu về độ tin cậy vận hành hoặc không đảm bảo đủ nhiên liệu (than, khí) cho phát điện, Việt Nam có thể đối mặt nguy cơ thiếu điện vào năm 2020. Các năm từ 2021-2025, mặc dù sẽ huy động tối đa các nguồn điện chạy dầu nhưng hệ thống điện nhiều khả năng không đáp ứng nhu cầu phụ tải và xảy ra tình trạng thiếu điện tại miền Nam với mức thiếu hụt tăng từ 3,7 tỷ kWh (năm 2021) lên gần 10 tỷ kWh (năm 2022), mức thiếu hụt cao nhất vào năm 2023 khoảng 12 tỷ kWh”, đại diện Cục Điều tiết điện lực phân tích. Tái khởi động điệnhạt nhân? Phát biểu tại diễn đàn Năng lượng Việt Nam vào hạ tuần tháng 8-2019, Thứ trưởng Bộ Công thương Hoàng Quốc Vượng cho biết, để đảm bảo cung cấp điện, bộ đã chủ động đẩy mạnh các giải pháp nhằm đảm bảo cung ứng điện cho giai đoạn sắp tới. Trong đó, khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời áp mái; đặc biệt tại khu vực phía Nam để giảm áp lực nguồn cung, tăng cường tiết kiệm điện, triển khai các chương trình kiểm toán năng lượng… Đồng thời, phối hợp với các bộ ngành liên quan tìm cách tháo gỡ khó khăn về cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy các dự án đầu tư xây dựng điện cho phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, Bộ Công thương cũng tính toán tăng nhập khẩu điện từ Lào và Trung Quốc. Cụ thể, với nguồn điện từ Lào, theo thỏa thuận đã ký giữa hai Chính phủ, công suất mua tới năm 2020 khoảng 1.000MW, tăng lên 3.000MW vào năm 2025 và khoảng 5.000MW đến 2030. Lượng điện nhập từ Trung Quốc cũng dự kiến tăng từ năm 2021, với mức giá cạnh tranh hơn so khung giá mua điện từ Lào và thấp hơn giá trung bình các nhà máy nhiệt điện than (trên 7 cent/kWh). Từ năm 2015, Việt Nam đã chuyển từ nước xuất siêu sang nhập siêu về năng lượng và ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn năng lượng nhập khẩu như kế hoạch nêu trên. Còn các nguồn năng lượng tái tạo tuy có tiềm năng nhưng giá thành còn cao, gặp nhiều rào cản kỹ thuật và tài chính trong việc phát triển và vận hành. Do đó, trong một văn bản gửi Thủ tướng mới đây, các chuyên gia thuộc Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cho rằng Việt Nam hiện có gần 100 triệu dân với nền kinh tế đang thời kỳ phát triển mạnh, nhu cầu năng lượng còn tiếp tục tăng cao. Trong khi đó, nguồn tài nguyên năng lượng sơ cấp phong phú nhưng hữu hạn, không còn đáp ứng được nhu cầu sản xuất điện và phải nhập khẩu than, khí hóa lỏng với sản lượng ngày càng tăng. Do vậy, để góp phần giải quyết vấn đề này, một trong những giải pháp hữu hiệu là phát triển điện hạt nhân. Hiện vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về việc khởi động lại dự án điện hạt nhân. Hầu hết chuyên gia đều không đồng thuận và đề xuất phải cân nhắc thận trọng, bởi đến thời điểm này chưa có cơ sở nào để khẳng định làm điện hạt nhân an toàn và bền vững. Theo Thứ trưởng Bộ Công thương Hoàng Quốc Vượng, điện hạt nhân là vấn đề lớn của đất nước. Ban Kinh tế Trung ương đang chỉ đạo nghiên cứu để tham mưu với Đảng, Chính phủ có chính sách phù hợp với sự phát triển năng lượng nói chung. Trước mắt cần tính tới giải pháp khác giúp đảm bảo an ninh năng lượng. LẠC PHONG
Development cooperation

We always acknowledge that your cooperation has made a significant contribution to our success

Contact us

(+84-24) 222 555 86

Financial statement

21/08/2018

Partners customers