Menu Button
SONG DA 5 JOINT STOCK COMPANY
Vietnamese Korean

Công ty Cổ phần Sông Đà 5

Phó Chủ Tịch Tập đoàn Obayashi Corporation – Khu vực Châu Á Thái Bình Dương tới thăm và làm việc tại Sông Đà 5
Phó Chủ Tịch Tập đoàn Obayashi Corporation – Khu vực Châu Á Thái Bình Dương tới thăm và làm việc tại Sông Đà 5 Trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam vừa qua, ông Kazuhiko Chabayashi - Phó chủ tịch Tập đoàn Obayashi Corporation – Khu vực Châu Á Thái Bình Dương tới thăm và làm việc với ông Nguyễn Đắc Điệp - Tổng giám đốc Công ty cổ phần Sông Đà 5 tại trụ sở Hà Nội. Tại buổi làm việc, thay mặt cho Tập đoàn Obayashi, ông Kazuhiko Chabayashi đã cảm ơn ghi nhận những đóng góp to lớn của Sông Đà 5 trong việc hoàn thành thi công dự án thủy điện Nam Ngiep 1 tại CHDCND Lào, đã đưa dự án về đích đáp ứng yêu cầu về mặt chất lượng, tiến độ và an toàn được các chuyên gia Hội đập lớn và Chủ đầu tư đánh giá rất cao. Qua đó, phía Obayashi cũng bày tỏ nguyện vọng sẽ duy trì hợp tác lâu dài và bền vững với Sông Đà 5. Ông Nguyễn Đắc Điệp đã cảm ơn sự tin tưởng, ghi nhận của tập đoàn Obayashi và khẳng định rằng thành công của dự án có được là do sự hợp tác chặt chẽ và hiệu quả của Tổng thầu Obayashi với lợi thế là kinh nghiệm quản lý các công trình mang đẳng cấp quốc tế, đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, thiết bị hiện đại và Nhà thầu thi công là Sông Đà 5 nhiều kinh nghiệm thi công các dự án thủy điện quy mô lớn, tính chất công trình phức tạp và rất am hiểu thị trường địa phương. Tập đoàn Obayashi luôn là người bạn lớn, là đối tác chiến lược của Sông Đà 5. Trong thời gian tới Sông Đà 5 sẽ tiếp tục thúc đẩy mối quan hệ hợp tác với tác đẹp với Obayashi để đưa mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu hơn nữa, tăng cường mở rộng và phát triển mối quan hệ hợp tác giữa hai bên. Tiếp đó, lãnh đạo hai bên đã trao đổi, chia sẻ các thông tin về tình hình hoạt động và thị trường dự án tiềm năng của hai doanh nghiệp cũng như các định hướng chiến lược trong thời gian tới. Hai bên cùng nhất trí duy trì và tăng cường chặt chẽ, toàn diện mối quan hệ hợp tác với các nội dung về hỗ trợ kỹ thuật, hợp tác kinh doanh cũng như các nội dung chiến lược khác. Trên cơ sở quá trình hợp tác bền chặt và hiệu quả thời gian qua, hai bên khẳng định việc hợp tác sẽ tiếp tục được nâng tầm với các ưu tiên tập trung cho các mảng xây lắp các dự án hạ tầng và công trình năng lượng tại thị trường Lào và các nước trong khu vực. Sự thành công của buổi gặp mặt cấp cao này một lần nữa thể hiện thành công của Sông Đà 5 trong việc mở rộng thương hiệu của mình ra thị trường nước ngoài. Tập Đoàn OBAYASHI là 1 doanh nghiệp kiến trúc hàng đầu của Nhật Bản, là một trong những doanh nghiệp đứng đầu Nhật Bản. Các công trình tiêu biểu tại Nhật Bản như công trình tháp Tokyo Sky Tree cao nhất Nhật Bản… Tại Việt Nam, Công ty Obayashi được biết đến là một trong những nhà thầu uy tín với những dự án nổi bật như Lãnh sự quán Nhật Bản, cầu Thanh Trì, Ga hành khách sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, Đường hầm Thủ Thiêm, Đại Lộ Đông Tây Sài Gòn và nhiều dự án nhà máy khác. Một số hình ảnh của buổi làm việc: Nguồn: Sông Đà 5
  • Công ty cổ phần Sông Đà 5 đã hoàn thành lắp đặt đưa vào vận hành trạm nghiền đá 350T/h và 250T/h tại dự án nhà máy thủy điện Nam Kong 3, CHDCND Lào
    Công ty cổ phần Sông Đà 5 đã hoàn thành lắp đặt đưa vào vận hành trạm nghiền đá 350T/h và 250T/h tại dự án nhà máy thủy điện Nam Kong 3, CHDCND Lào Cuối năm 2019, Công ty cổ phần Sông Đà 5 đã được Chủ đầu tư – Công ty TNHH Chaleun Sekong Group tin tưởng trao thực hiện gói thầu khai thác mỏ đá và sản xuất cốt liệu phục vụ thi công dự án thủy điện Nam Kong 3 tại CHDCND Lào. Dự án thủy điện Nam Kong 3 có công suất 54MW tại Làng Lamong, huyện Phouvong, tỉnh Attapeu, CHDCND Lào gồm các hạng mục công trình : Đập bê tông trọng lực RCC, đập tràn, cửa nhận nước, nhà máy, kênh xả … với khối lượng thực hiện lớn Phối cảnh dự án Sau hơn một tháng triển khai thực hiện lắp đặt trạm nghiền được đưa vào vận hành chạy thử 11/2/2020 và chính thức vận hành từ ngày 13/2/2020 Để khẩn trương hoàn thành công tác lắp đặt trạm nghiền theo kế hoạch, các cán bộ công nhân viên của ban điều hành dự án đã luôn cố gắng, tập trung bám sát công việc. Do tiến độ gấp nên toàn bộ lao động của công ty tại dự án đã ở lại thi công cả tết nguyên đán vừa qua. Ông Nguyễn Đắc Điệp - Tổng giám đốc đã biểu dương tinh thần lao động hăng say của toàn CBNV dự án đã hoàn thành việc lắp đặt đưa trạm nghiền vào khai thác, vận hành đúng kế hoạch. Đồng thời tin tưởng rằng với đội ngũ cán bộ, công nhân viên của công ty tại dự án có trình độ, kinh nghiệm cao sẽ thực hiện gói thầu đúng tiến độ, hợp đồng đã kỹ kết với chủ đầu tư. Hai trạm nghiền có công suất 350T/h và 250T/h đi vào hoạt động sẽ đáp ứng được yêu cầu sản xuất cốt liệu của dự án. Cùng với việc hoàn thành lắp đặt trạm nghiền, công tác khoan nổ mìn mỏ đá cũng đi vào khai thác đảm bảo đủ cung cấp đá hộc cho việc nghiền sản xuất cốt liệu phục vụ thi công bê tông RCC. Dưới đây là một số hình ảnh về hai trạm nghiền. Khai thác mỏ đá (Nguồn Sông Đà 5)
  • Công ty Cổ phần Sông Đà 5 chung tay đẩy lùi dịch bệnh COVID 19
    Công ty Cổ phần Sông Đà 5 chung tay đẩy lùi dịch bệnh COVID 19 Trước diễn biễn phức tạp nguy hiểm và ngày càng lan rộng của dịch bệnh COVID 19, Công ty cổ phần Sông Đà 5 đã chủ động cập nhật các thông tin và thông báo ngay tới toàn thể CBNV, đồng thời triển khai mạnh mẽ các biện pháp phòng chống dịch hiệu quả chung tay cùng xã hội hạn chế tối đa sự lây lan của virut Corona .. Cụ thể tại văn phòng công ty và các công trường đã tổng vệ sinh, thực hiện các biện pháp khử khuẩn. Trước khi vào làm việc toàn bộ CBNV đều được khuyến cáo phải đeo khẩu trang y tế, rửa tay khử trùng và sẽ được kiểm tra đo thân nhiệt bằng máy đo thân nhiệt hồng ngoại. Các ban điều hành dự án và các công trường xây dựng là nơi tập trung lực lượng lao động từ khắp các vùng miền đất nước, Tổng giám đốc Công ty đã chỉ đạo các BĐH, Ban An toàn sức khỏe môi trường, tuyên truyền phổ biến kiến thức về biện pháp phòng ngừa dịch bệnh COVID 19 đến toàn bộ các CBNV, công nhân lao động theo khuyến cáo của Bộ Y tế, công tác tuyên truyền thực hiện thường xuyên, liên tục hàng ngày. Ban lãnh đạo công ty thể hiện sự quyết liệt trong công tác phòng chống dịch bệnh, bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe của cán bộ công nhân viên, chung tay cùng toàn xã hội đẩy lùi dịch bệnh. Dưới đây là một số hình ảnh triển khai tại công trường. (Nguồn Sông Đà 5)
  • Sông Đà 5 gặp mặt khai xuân Canh Tý 2020
    Sáng ngày 30/01/2020 (tức ngày mùng 6 Tết Canh Tý), Công ty Cổ phần Sông Đà 5 đã tổ chức khai xuân trực tuyến tại trụ sở công ty với các đầu cầu dự án : Dự án Hồ chứa nước Bản Lải, Dự án thủy lợi Tân Mỹ, Dự án Nhà máy thép Hòa Phát, Dự án thủy điện Nam E Moun, Dự án thủy điện Nam Kong 3 – Lào. Tại buổi gặp mặt đầu Xuân mới, đồng chí Trân Anh Đức – Chủ tịch hội đồng quản trị Công ty và đồng chí Nguyễn Đắc Điệp- Tổng Giám Đốc đã chủ trì Tại buổi khai xuân, giám đốc các dự án ở các điểm cầu đã báo cáo tình hình hoạt động trong dịp tết, thực hiện chỉ đạo của công ty về chăm lo cho CBNV đón Tết vui tươi, đầm ấm và thực hiện công tác đảm bảo an toàn, an ninh trật tự trên công trường cũng như các công tác chuẩn bị triển khai thi công trở lại tại các công trường, dự án. tính đến thời điểm hiện tại các cán bộ công nhân viên hầu hết đã có mặt tại các dự án để chuẩn bị khai xuân công việc. Đặc biệt, xuân Canh Tý vừa qua, hai công trường dự án tại Lào là Dự án thủy điện Nam E-Moun và Dự án thủy điện Nam Kong 3, do yêu cầu tiến độ thi công thực tế, công trường vẫn phải tập trung cao để triển khai thi công . Chính vì thế, toàn bộ công trường nghỉ tết trong thời gian 1,5 ngày( chiều 30 và mùng 1). Tuy vất vả là vậy, nhưng khắp nơi trên công trường vẫn là không khí đầm ấm, vui vẻ, đoàn kết, toàn bộ tập thể cán bộ công nhân viên trên công trường cũng thấu hiểu được tầm quan trọng của dự án, do vậy các CBNV đều rất đồng lòng và quyết tâm duy trì nhịp độ công việc trên công trường, đảm bảo thi công trong dịp tết đảm bảo an toàn, chất lượng và đúng tiến độ đề ra. Thay mặt lãnh đạo công ty, đồng chí Chủ tịch HĐQT Trần Anh Đức đã gửi những lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất đến cá nhân và gia đình toàn thể các cán bộ công nhân viên Công ty Sông Đà 5. Đồng chí cũng ghi nhận những nỗ lực, cố gắng và những thành quả mà tập thể cán bộ công nhân viên Sông Đà 5 đã đạt được trong năm vừa qua. Đồng thời. mong muốn toàn thể CBCNV Công ty Sông Đà 5 tiếp tục phát huy hơn nữa tinh thần đoàn kết sáng tạo, quyết tâm thực hiện tốt các kế hoạch kinh doanh trong năm 2020 . Tại buổi gặp mặt Đồng chí Nguyễn Đắc Điệp, Tổng Giám Đốc công ty ghi nhận lãnh đạo các dự án, tổ chức công đoàn các dự án trong công ty đã phối hợp chuẩn bị và thực hiện tốt công tác chăm lo Tết cho CBNV với nhiều hoạt động phong phú, thiết thực, ý nghĩa, mang đến cho người lao động một cái Tết đủ đầy, ấm cúng, vui vẻ đồng thời cũng biểu dương và đánh giá cao sự nỗ lực của các công trường dự án do yêu cầu tiến độ, tổ chức thực hiệnthi công trong dịp tết nguyên đán vừa qua. Triển khai nhiệm vụ năm 2020, với những thuận lợi và khó khăn song hành, Tổng Giám đốc Nguyễn Đắc Điệp nhấn mạnh, các dự án cần tập trung ngay vào công việc, tiếp tục cố gắng duy trì, phát huy những kết quả đã đạt được, Quyết tâm thực hiện kế hoạch sản xuất năm 2020 công ty hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ./. Trong khuôn khổ buổi lễ, qua hệ thống cầu truyền hình, Nguồn: Sông Đà 5
  • Công ty cổ phần Sông Đà 5 tổ chức Lễ vinh danh CBNV xuất sắc, dạ tiệc tất niên 2019
    Ngày 20/01/2020 vừa qua, trong không khí rộn ràng của những ngày giáp Tết cổ truyền, Công ty Cổ phần Sông Đà 5 đã long trọng tổ chức buổi Lễ vinh danh CBNV, tiệc tất niên 2019. Đến dự lễ vinh danh CBNV xuất sắc có sự hiện diện của ông: Trần Anh Đức – Chủ tịch HĐQT Công ty, ông Nguyễn Đắc Điệp – Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám Đốc Công ty, các lãnh đạo, giám đốc BĐH các dự án, các ông bà trưởng phó các phòng ban cùng toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty. Trong không khi vui tươi và đầm ấm, Lễ tất niên là dịp để toàn thể các đồng chí cán bộ công nhân viên trong công ty cổ phần Sông Đà 5 được gặp mặt và cùng nhau nhìn lại kết quả đã đạt được, những điểm còn cần phải khắc phục, sửa đổi cho năm tiếp theo. (ảnh sự kiện) Tại buổi lễ tổng kết, thay mặt Ban lãnh đạo Công ty, ông Nguyễn Đắc Điệp, bí thư đảng ủy, Tổng Giám Đốc công ty đã gửi lời tri ân tới sự đóng góp của toàn thể CBNV công ty cổ phần Sông Đà 5 đã cùng chung sức chung lòng đóng góp vào sự phát triển của công ty trong năm qua. đồng thời khẳng định tinh thần đoàn kết chính là yếu tố quan trọng nhất giúp Sông Đà 5 vượt qua nhiều giai đoạn sóng gió, từng bước khẳng định vị thế trên thị trường. Trong năm 2019 Công ty đạt sản lượng thực hiện gần 1200 tỷ, đảm bảo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động, bình quân thu nhập đạt 11 triệu đồng/người/tháng. Tại buổi lễ, Để ghi nhận những đóng góp Công ty cổ phần Sông Đà 5 cũng đã vinh danh các cá nhân có thành tích xuất sắc trong năm 2019 ‘cán bộ quản lý giỏi, công nhân và nhân viên xuất sắc’ , Các gương mặt được vinh danh tại Lễ Tổng kết cụ thể Như sau: Danh Hiệu Cán bộ quản lý giỏi của năm 2019 : Ông (bà) …………………………………………….. Ông (bà) …………………………………………….. Danh hiệu Công nhân tiêu biểu của năm 2019. Ông (bà) …………………………………………….. Ông (bà) …………………………………………….. Ông (bà) …………………………………………….. Ông (bà) …………………………………………….. Ông (bà) …………………………………………….. Danh hiệu Nhân viên xuất sắc của năm 2019: Ông (bà) …………………………………………….. Với sự cố gắng không ngừng nghỉ và những đóng góp to lớn vào sự phát triển chung của công ty, danh hiệu Cán bộ quản lý giỏi, Công nhân Tiêu biểu và Nhân viên xuất sắc nhất năm 2019 sẽ là món quà tinh thần và động lực giúp cho các CBNV của công ty Cổ phần Sông Đà 5 tiếp tục nỗ lực hơn trong năm mới. ( Chèn ảnh Vinh danh các danh hiệu xuất sắc) Năm 2020 sẽ vẫn là một năm có nhiều thách thức và khó khăn đối với Nghành thi công xây dựng nói chung và đối với Công ty Cổ phần Sông Đà 5 nói riêng, nhưng với tinh thần đoàn kết và nỗ lực vươn lên, tin tưởng rằng Công ty cổ phần Sông Đà 5 sẽ tiếp tục phát triển ổn định và vững mạnh. Buổi tối cùng ngày, Dạ tiệc tất niên năm 2019 cũng đã được diễn ra với sự tham gia của các CBNV Sông Đà 5 trong không khí ấm áp, vui vẻ, cùng nhau ôn lại chặng đường một năm đã qua và hướng tới một năm mới 2020 hứa hẹn nhiều thành công. Dưới đây là một số hình ảnh ghi nhận tại Lễ tổng kết năm 2019 và chào mừng năm mới 2020. (Chèn hình ảnh tại buổi lễ tổng kết năm) (Nguồn Sông Đà 5)
  • Sông Đà 5 và Chaleun Sekong ký kết thành công Hợp đồng mua bán điện với EVN
    Ngày 04/10/2019, trong khuôn khổ kỳ họp lần thứ 42 Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác song phương Việt Nam – Lào tại Hà Nội, đã long trọng diễn ra lễ ký kết hợp đồng mua bán điện giữa EVN và Công ty TNHH Năng lượng Chaleun Sekong. Trước sự chứng kiến củaThủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Thongloun Sisoulith, Bộ trưởng Bộ công thương Việt Nam Trần Tuấn Anh và Bộ trưởng Bộ Năng lượng và Mỏ Lào Khammany Inthirath, ông Trần Đình Nhân -Tổng giám đốc EVN và ông Chanthanome Phommany - Chủ tịch Công ty TNHH Năng lượng Chaleun Sekong đã ký kết hợp đồng mua bán điện đối với nhà máy thủy điện Nam Kong 2 (công suất 66 MW), Nam Kong 3 (công suất 54 MW) và nhà máy thủy điện Nam Emoun (công suất (129 MW). Sự kiện ký kết hợp đồng mua bán điện này có ý nghĩa vô cùng quan trọng về mặt vĩ mô, củng cố và làm sâu sắc hơn mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, mở rộng quy mô hợp tác về kinh tế trong lĩnh vực năng lượng với rất nhiều cơ hội tiềm năng. Mặt khác, sự kiện cũng ghi nhận những nỗ lực không ngừng của các doanh nghiệp Việt Nam và Lào như EVN, Chaleun Sekong và Sông Đà 5, đánh dấu sự thành công trong việc hiện thực hóa các nội dung cam kết trong Biên bản ghi nhớ hợp tác đầu tư giữa Công ty cổ phần Sông Đà 5 và Công ty TNHH Năng lượng Chaleun Sekong tại kỳ họp lần thứ 40 của hai chính phủ và mở ra các cơ hội hợp tác tốt đẹp hơn nữa giữa hai doanh nghiệp trong tương lai. Nhìn lại chặng đường hai năm qua từ thời điểm ký Biên bản ghi nhớ hợp tác toàn diện giữa hai doanh nghiệp về việc hợp tác đầu tư, thi công các công trình thủy điện tại Lào, truyền tải bán điện về Việt Nam đến thành công ký PPA ngày hôm nay là sự nỗ lực, quyết tâm và sự phối hợp chặt chẽ của Sông Đà 5 và Công ty TNHH Năng lượng Chaleun Sekong, từng bước hiện thực hóa các nội dung thỏa thuận. Đoàn đại biểu CSE và Sông Đà 5 tại buổi lễ ký kết Hiện nay, trong ba dự án ký hợp đồng mua bán điện lần này, Sông Đà 5 đang thi công hai dự án là Nam Kong 3 (công suất 54 MW) và Tổng thầu nhà máy thủy điện Nam Emoun (công suất (129 MW) trong đó dự kiến Nam Kong 3 sẽ hoàn thành và phát điện vào cuối 2020 và Nam Emoun là năm 2021. Nhà thầu Sông Đà 5 với kinh nghiệm ba mươi năm thi công các công trình thủy điện trọng điểm tại Việt Nam và Lào hoàn toàn tự tin sẽ hoàn thành các dự án này đúng tiến độ, đảm bảo mỹ quan, chất lượng và an toàn Nguồn: Sông Đà 5
Hòa Phát muốn đầu tư tiếp 60.000 tỷ đồng mở rộng khu liên hợp Dung Quất
Tập đoàn Hòa Phát ( HoSE: HPG ) sẽ thực hiện chốt danh sách cổ đông vào ngày 2/3 để lấy ý kiến bằng văn bản thông qua chủ trương giai đoạn mở rộng khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất. Ngày giao dịch không hưởng quyền vào 28/2. Thời gian dự kiến thực hiện lấy ý kiến cổ đông ngay trong tháng 3. Quy mô giai đoạn mở rộng là 5 triệu tấn thép bao gồm 3 triệu tấn thép tấm cuộn HRC, 1 triệu tấn thép hình cỡ trung, 0,5 triệu tấn thép dây cuộn chất lượng cao, 0,5 triệu tấn thép tròn cơ cơ khí chế tạo. Diện tích đất sử dụng khoảng 166 ha. Tổng vốn đầu tư dự án 60.000 tỷ đồng. Trong đó, vốn cố định dự kiến là 50.000 tỷ đồng, vốn lưu động là 10.000 tỷ đồng. Về cơ cấu vốn cố định, vốn tự có dự kiến 30.000 tỷ đồng vốn góp và vốn vay 20.000 tỷ đồng. Nguồn vốn tự có 30.000 tỷ đồng được các cổ đông góp theo tiến độ triển khai dự án và được lấy từ vốn chủ sở hữu và các nguồn khác. Tiến độ thực hiện dự án chia làm 2 phân kỳ, trong đó phân kỳ I là xây dựng hoàn thành và đưa vào hoạt động trong thời hạn 36 tháng kể từ ngày bàn giao đất và cấp phép xây dựng. Phân kỳ II là xây dựng hoàn thành và đưa vào hoạt động trong thời hạn 36 tháng kể từ khi phân kỳ I hoàn thành. Dự án khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất (Khu kinh tế Dung Quất, Quảng Ngãi) là Tại cuộc gặp chuyên viên phân tích cuối tháng 12/2019, lãnh đạo công ty khẳng định đã thu xếp gần như toàn bộ vốn đầu tư 52.000 tỷ đồng, trong đó Hòa Phát rót khoảng 30.000 tỷ đồng và vay nợ 20.000 tỷ đồng từ Vietcombank và VietinBank. Số 2.000 tỷ đồng còn lại tập đoàn sẽ bổ sung từ nguồn vốn khác nhờ có lãi hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm. Thời gian khấu hao bình quân là 12 năm. Dự án Dung Quất hiện tại cấu thành gồm 3 bộ phận chính là lò cao số 1 và lò cao số 2 có công suất tối đa 1,2 triệu tấn thép/lò, dây chuyền cán thép tối đa 2,5 triệu tấn/năm. Tổng công suất thiết kế vào khoảng 4,8 triệu tấn/năm. Tại thời điểm 31/12/2019, chi phí xây dựng cơ bản dở dang của dự án khu liên hợp gang thép Dung Quất là hơn 33.098 tỷ đồng, giảm khoảng 2% so với số đầu năm do một số dự án đi vào hoạt động ghi nhận khấu hao. Tài sản cố định hữu hình trong năm 2019 tăng từ 12.565 tỷ đồng lên thành 30.974 tỷ đồng. Trong báo cáo đầu tháng 1, Hòa Phát cho biếtkhu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất đã cơ bản hoàn thành, đang trong giai đoạn vận hành thử nghiệm giai đoạn 1 và đẩy mạnh tiến độ xây dựng giai đoạn 2 của Khu liên hợp. Dự kiến toàn bộ hai giai đoạn sẽ đi vào hoạt động đồng bộ từ cuối quý II. Kết thúc năm 2019, doanh thu đạt gần 65.000 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế hơn 7.500 tỷ đồng, vượt 13% kế hoạch lợi nhuận năm 2019, giảm khoảng 12,7% so với năm 2018. Doanh nghiệp đầu ngành thép này mới đây cũng công bốsản lượng bán hàng thép xây dựng tháng 1 chỉ ở mức khiêm tốn 175.800 tấn, giảm 40,6% so với tháng trước do ảnh hưởng của 2 kỳ nghỉ lễ Tết Dương lịch và Âm lịch. So với cùng kỳ, sản lượng giảm 29%.Tuy nhiên, lượng tiêu thụ tại miền Nam vẫn tăng hơn 41% so với tháng trước. Nguồn: http://cafef.vn/hoa-phat-muon-dau-tu-tiep-60000-ty-dong-mo-rong-khu-lien-hop-dung-quat-20200211111358845.chn
  • Việt Nam - Lào ký kết 5 hợp đồng mua bán điện
    TCCT - Lễ ký kết giữa Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cùng Tập đoàn Phongsubthavy (Lào) và Công ty TNHH Năng lượng Chaleun Sekong (Lào) diễn ra dưới sự chứng kiến của Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam Trần Tuấn Anh và Bộ trưởng Bộ Năng lượng và Mỏ Lào Khammany Inthirath. Nhân dịp kỳ họp lần thứ 42 Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác song phương Việt Nam - Lào tổ chức tại Hà Nội từ ngày 3-4/1/2020, chiều 4/1/2020, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đã có buổi làm việc với ông Khammany Inthirath - Bộ trưởng Bộ Năng lượng và Mỏ Lào và chứng kiến lễ ký kết hợp đồng mua bán điện giữa Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Tập đoàn Phongsubthavy, Lào, giữa EVN và Công ty TNHH Năng lượng Chaleun Sekong, Lào. Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh (bên phải) và Bộ trưởng Bộ Năng lượng và Mỏ Lào Khammany Inthirath (bên trái) Tham dự buổi làm việc song phương giữa hai Bộ trưởng, về phía Việt Nam, gồm có Lãnh đạo Văn phòng Bộ Công Thương, Vụ Thị trường châu Á - châu Phi, Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, Lãnh đạo Tập đoàn EVN và Tổng công ty Sông Đà 5. Về phía Lào, tham dự buổi làm việc và lễ ký có các cán bộ của Bộ Năng lượng và Mỏ Lào, Lãnh đạo Công ty TNHH Năng lượng Chaleun Sekong và Tập đoàn Phongsubthavy. Kết quả tích cực trong hợp tác năng lượng Việt - Lào Tại buổi tiếp, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh bày tỏ sự vui mừng khi được chào đón Bộ trưởng Khammany INTHIRATH tới Bộ Công Thương, cùng tham dự Lễ ký kết hợp đồng mua bán điện giữa các chủ đầu tư hai nước. Sự kiện này có ý nghĩa hết sức quan trọng, thực hiện đúng chủ trương về đẩy mạnh quan hệ hợp tác của Bộ Chính trị và Chính phủ hai nước. Trong khuôn khổ làm việc của hai Bộ Chính trị và Ủy ban liên Chính phủ, Lãnh đạo hai Bên đã nhấn mạnh, đồng thời khẳng định hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và Lào, cụ thể là hợp tác mua bán điện đã đi vào hiện thực. Hợp tác năng lượng nói chung và mua bán điện nói riêng đã làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước, là động lực mới mở rộng quy mô hợp tác hai Bên. Hai Bộ trưởng cho biết hợp tác Việt - Lào trong lĩnh vực năng lượng thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực Bộ trưởng Trần Tuấn Anhcho biết mô hình hợp tác “win-win” giữa hai Bên làm cơ sở để Chính phủ và cơ quan hai nước mở rộng hợp tác hơn nữa trong thời gian tới, theo tinh thần Thủ tướng hai Bên đã thống nhất tại Kỳ họp 42 Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác song phương giữa Việt Nam và Lào. Những kết quả tích cực trong hợp tác năng lượng đạt được nhờ sự chỉ đạo tập trung, quyết liệt giữa Bộ Công Thương Việt Nam và Bộ Năng lượng và Mỏ Lào, sự vào cuộc tích cực của các doanh nghiệp, chủ đầu tư của hai bên, đặc biệt là sự chỉ đạo sát sao của Bộ trưởng Bộ Năng lượng và Mỏ Lào. Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cũng gửi lời cảm ơn Bộ trưởng Năng lượng và Mỏ Lào đã thu xếp tới tham dự Lễ ký kếtmua bán điệnngày hôm nay, đồng thời khẳng định những cơ hội, dư địa hợp tác năng lượng còn nhiều ở phía trước, hy vọng hai Bên sẽ cùng đạt được những thành công mới trong thời gian tới. Bộ trưởng chúc mừng doanh nghiệp, chủ đầu tư hai Bên đã đàm phán, ký kết các hợp đồng vào dịp rất có ý nghĩa; cam kết sẽ chỉ đạo quyết liệt và sát sao vì mối quan hệ phát triển tốt đẹp giữa hai nước nói chung, trong lĩnh vực năng lượng và mỏ nói riêng. Doanh nghiệp đẩy mạnh hợp tác đầu tư Bộ trưởng Năng lượng và Mỏ Lào Khammany Inthirath gửi lời cảm ơn Bộ trưởng Trần Tuấn Anh đã tiếp đón nồng hậu. Bộ trưởng đánh giá cao Kỳ họp 42 lần này, cho rằng Kỳ họp đã đạt được nhiều thành công hơn các năm trước. Thay mặt Chính phủ, Nhân dân Lào, Bộ trưởng gửi lời cảm ơn nhân dân Việt Nam, Chính phủ Việt Nam,Bộ Công Thươngvà đặc biệt Bộ trưởng Trần Tuấn Anh. Trong thời gian qua, doanh nghiệp và chủ đầu tư đã ký kết được 8 hợp đồng mua bán điện và hôm nay ký được 5 hợp đồng mua bán điện. Bộ trưởng bày tỏ hi vọng rằng các dự án ký kết sẽ được triển khai có hiệu quả. Hợp đồng ký kết mua bán điện giữa EVN và 2 doanh nghiệp Lào là một trong những hợp tác có ý nghĩa quan trọng Bộ trưởng Khammany Inthirath cũng cho biết phía Lào hiện đang nghiên cứu khả thi 20 dự án, trong đó có các dự án điện có công suất cao. Hiện nay, phía Lào đang tập trung nguồn sản xuất, xây dựng đường dây Bắc Nam để trao đổi thương mại điện với các nước trong khu vực. Tại Kỳ họp 42 Ủy ban Liên Chính phủ về Hợp tác song phương Việt Nam - Lào, hợp tác năng lượng đã trở thành một nội dung hợp tác chính. Do vậy, trong thời gian tới, cơ quan cũng như doanh nghiệp và chủ đầu tư hai nước cần hợp tác chặt chẽ hơn nữa đểhợp tác năng lượng và mỏ giữa hai nước ngày càng được tăng cường, làm động lực phát triển kinh tế giữa hai nước. Hai Bộ trưởng giao Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, EVN và các cơ quan, doanh nghiệp liên quan của Lào tiếp tục tích cực phối hợp chặt chẽ để sớm hoàn thành công tác đàm phán của các dự án nhà máy thủy điện khác đã được chấp thuận chủ trương cũng như tiếp tục triển khai quyết liệt các công trình lưới điện để truyền tải điện từ các dự án trên về Việt Nam trong năm 2020. Thêm 5 hợp đồng mua bán điện được ký kết Kết thúc buổi làm việc, hai Bộ trưởng đã chứng kiến lễ ký kết hợp đồng mua bán điện giữa EVN và Tập đoàn Phongsubthavy, giữa EVN và Công ty TNHH Năng lượng Chaleun Sekong. Các hợp đồng này bao gồm: Hợp đồng mua bán điện đối với Nhà máy Thủy điện Nam Kong 2 (công suất 66 MW), Nam Kong 3 (công suất 54 MW) và Nhà máy Thủy điện Nam Emoun (công suất 129 MW) do ông Trần Đình Nhân - Tổng Giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Ông Chanthanome PHOMMANY - Chủ tịch Công ty TNHH Năng lượng Chaleun Sekong ký. Lễ ký kết Hợp đồng mua bán điện đối với Nhà máy Thủy điện Nam Kong 2, Nam Kong 3, Nam Emoun giữa EVN và Công ty TNHH Năng lượng Chaleun Sekong Hợp đồng mua bán điện đối với Nhà máy Thủy điện Nậm San 3A (công suất 69 MW) và Nậm San 3B (công suất 45 MW) thuộc Cụm Nhà máy Thủy điện Nậm Mô do ông Trần Đình Nhân - Tổng Giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Ông Phongsavath SENAPHUAN - Chủ tịch Tập đoàn Phongsubthavy (Lào) ký. Lễ ký kết Hợp đồng mua bán điện đối với Nhà máy Thủy điện Nậm San 3A, Nậm San 3B giữa EVN và Tập đoàn Phongsubthavy Các hợp đồng mua bán điện này ký kết và đi vào triển khai có ý nghĩa thiết thực triển khai chủ trương của Lãnh đạo cấp cao Việt Nam và Lào tăng cường quan hệ mua bán điện giữa hai nước và có ý nghĩa quan trọng đối với nhu cầu năng lượng để phát triển kinh tế của Việt Nam cũng như nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Lào trong thời gian tới. Trong năm 2019, Bộ Công Thương và Bộ Năng lượng và Mỏ Lào đã hợp tác chặt chẽ, đạt nhiều kết quả đáng khích lệ trong lĩnh vực mua bán điện giữa Việt Nam và Lào bao gồm: - Tháng 2/2019, Bộ Công Thương Việt Nam và Bộ Năng lượng và Mỏ Lào đã hoàn thành đàm phán và ký Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào về hợp tác phát triển các công trình năng lượng điện và mỏ nhân chuyến thăm chính thức của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. - Bộ Công Thương đã phối hợp với các Bộ, ngành báo cáo Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương nhập khẩu điện từ các dự án: nhà máy thủy điện (NMTĐ) Nam Kong 1, 2, 3 (Tỉnh Atapeu) và Nam Emoun (Tỉnh Sekong); Cụm NMTĐ Nậm Mô (Tỉnh Xiêng-khoảng), dự án Thủy điện Nậm Sum (Tỉnh Hủa Phăn). - Hai Bên đã tích cực triển khai đàm phán và đã thống nhất hợp đồng mua bán điện của phần lớn các dự án NMTĐ đã được phê duyệt chủ trương nhập khẩu bao gồm Nam Kong 2, 3, Nam Emoun, Nam Sun 3A, 3B) Thy Thảo
  • Mười sự kiện nổi bật của ngành Năng lượng Việt Nam năm 2019
    [NANGLUONGVIETNAM] Song hành với những thành tựu phát triển kinh tế ngoạn mục, trong năm qua ngành Năng lượng Việt Nam cũng có những điểm nổi bật cả về chính sách mới của Chính phủ, những thành công đáng ghi nhận ở tầm khu vực và cả những mối quan tâm lớn về đảm bảo an ninh cung cấp năng lượng trong dài hạn, khi mà lượng nhập khẩu than, dầu thô cùng tăng cao. Hành trình bước vào năm mới - 2020, sau khi phân tích, cân nhắc dữ liệu từ các chuyên ngành (điện, than, dầu khí, năng lượng tái tạo...), các chuyên gia Tạp chí Năng lượng Việt Nam đã bình chọn 10 sự kiện nổi bật, quan trọng của ngành Năng lượng Việt Nam năm 2019 để bạn đọc cùng tham khảo. 1/ Lần đầu tiên nhiệm vụ lập Quy hoạch tổng thể về năng lượng Việt Nam (thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050) được Chính phủ giao thực hiện. Với việc tổng kết đánh giá thực hiện Nghị quyết 18 của Ban chấp hành TW Đảng về chiến lược phát triển ngành năng lượng và những nét chính của Chiến lược phát triển năng lượng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 1743/ QĐ-TTg ngày 3/12/2019 giao Nhiệm vụ lập Quy hoạch tổng thể về năng lượng Việt Nam thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050. Nhiệm vụ này cũng được giao hầu như đồng thời với nhiệm vụ lập Quy hoạch điện giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Quy hoạch điện VIII). Việc lần đầu tiên lập Quy hoạch tổng thể về năng lượng Việt Nam thể hiện sự đáp ứng mong mỏi của nhiều chuyên gia, nhà quản lý ngành năng lượng lâu nay, về sự cần thiết cân đối, hài hòa, tương hỗ trong phát triển các phân ngành than, điện, dầu khí và năng lượng tái tạo của Việt Nam. 2/ Tổng công suất nguồn năng lượng tái tạo ( điện mặt trời , điện gió) vượt 5.000 MW, đứng đầu ASEAN. Với mốc thời gian năm 2013 Việt Nam chỉ có 46 MW điện gió và 4 MW điện mặt trời (ĐMT), thì đến năm 2019 Việt Nam đã có tổng cộng 5.039 MW công suất hai loại nguồn này, tăng 100 lần và chiếm tỷ lệ 9,2% tổng công suất đặt nguồn điện (bao gồm 274 MW điện gió và 4.765 MW ĐMT, trong đó 325 MW là ĐMT trên mái nhà). Theo ASEAN Post, hiện nguồn điện mặt trời của Việt Nam chiếm gần 44% khối ASEAN, vượt xa Thái Lan là nước đứng thứ 2 với 2.715 MW. Trong các nguồn ĐMT, công trình điện mặt trời nổi trên hồ Đa Mi với công suất 47,5 MWp cũng được đưa vào vận hành năm 2019. Đây là loại hình ĐMT tận dụng một phần nhỏ diện tích mặt hồ chứa công trình thủy điện - thủy lợi, làm tăng hiệu quả bức xạ nhiệt mặt trời do được hơi nước làm mát tấm pin, ngăn bớt sự bay hơi nước, tránh sử dụng đất đai và còn sử dụng phối hợp với lưới điện của nhà máy thủy điện, giảm chi phí đầu tư lưới truyền tải. Điện mặt trời nổi trên hồ Đa Mi cũng là công trình có quy mô chỉ đứng sau ĐMT nổi lớn nhất thế giới 150 MW tại tỉnh An Huy của Trung Quốc. 3/ Tổng công suất nguồn điện Việt Nam đạt mốc 54.880 MW, quy mô đứng thứ 2 khu vực ASEAN và thứ 23 trên thế giới . Trong cơ cấu nguồn, thủy điện chiếm tỷ lệ 30,8%, nhiệt điện than 36,1%, tua bin khí 13%, các nguồn điện dầu và khác 3,3%, nhập khẩu 1%. Đặc biệt, nguồn điện năng lượng tái tạo - NLTT (bao gồm thủy điện nhỏ, điện mặt trời, điện gió và điện sinh khối) đạt mốc 15,8%. Nếu theo cách thống kê thông lệ của các nước, NLTT bao gồm cả thủy điện lớn và vừa, thì Việt Nam có tỷ lệ công suất nguồn điện NLTT rất cao, chiếm tới trên 46%. Trong cơ cấu chủ sở hữu các nhà máy điện, EVN và các Genco (trực thuộc và cổ phần) chiếm 53,6%, còn lại là các chủ đầu khác và nhập khẩu. Kiểm điểm mấy thông số chính theo Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) cho thấy: Năm 2019 điện thương phẩm ước đạt 209,4 tỷ kWh, thấp hơn 2,17%; công suất cực đại đạt 38.250 MW (đạt xấp xỉ Quy hoạch điện VII - điều chỉnh là 38.415 MW); công suất nguồn thấp hơn 1% so với dự kiến 55.450 MW. Mặc dù một số nguồn điện lớn chậm tiến độ như: Nhiệt điện Thái Bình 2, Long Phú 1, Sông Hậu 2... nhưng các nguồn điện mặt trời, điện gió phát triển bùng nổ đã bù lại công suất. Tín hiệu đáng mừng là nguồn NLTT tăng, nhưng đáng lo là tình trạng lưới không theo kịp, gây quá tải, nguồn dự phòng thiếu ở miền Nam và công tác vận hành rất khó khăn. 4/ Dịch vụ điện trực tuyến cấp độ 4 của EVN được thực hiện tại Trung tâm hành chính công, hoặc Cổng thông tin dịch vụ công tại 63/63 tỉnh, thành phố trên cả nước. Theo đó, từ ngày 24/12/2019, khách hàng chỉ cần truy cập địa chỉ trang web: www.dichvucong.gov.vn để có thể đăng ký 12 dịch vụ điện năng: 1/ Cấp điện mới từ lưới điện trung áp. 2/ Cấp điện mới mới từ lưới điện hạ áp. 3/ Thanh toán tiền điện. 4/ Thay đổi công suất sử dụng điện/thay đổi loại công tơ 1 pha, 3 pha. 5/ Thay đổi vị trí thiết bị đo đếm. 6/ Thay đổi mục đích sử dụng điện. 7/ Thay đổi định mức sử dụng điện. 8/ Thay đổi chủ thể Hợp đồng mua bán điện. 9/ Thay đổi thông tin đã đăng ký. 10/ Thay đổi hình thức thanh toán tiền điện. 11/ Gia hạn Hợp đồng mua bán điện. 12/ Chấm dứt Hợp đồng mua bán điện. Với các dịch vụ điện này, khi thực hiện giao dịch qua Cổng dịch vụ công Quốc gia , mọi hồ sơ, thủ tục của khách hàng sẽ được đơn giản hóa và thuận tiện. Đây là một tiến bộ đáng ghi nhận của ngành công nghiệp nói chung và ngành điện lực nói riêng. Đồng thời năm 2019 cũng cho thấy 'Chỉ số tiếp cận điện năng' của Việt Nam đạt 88,2/100 điểm tăng 0,24 điểm so với năm 2018 và duy trì thứ hạng 27/190 quốc gia, nền kinh tế trên thế giới và thứ 4 khu vực ASEAN vượt trước 2 năm so với mục tiêu của Chính phủ. Sau 6 năm (2013-2019, chỉ số tiếp cận điện năng của Việt Nam cải thiện 129 bậc, là chỉ số có mức độ cải thiện nhiều nhất và là một trong 3 chỉ số có thứ hạng tốt nhất trong 10 chỉ số môi trường kinh doanh của Việt Nam. 5/ Khởi công Kho LNG đầu tiên của Việt Nam tại Thị Vải. Ngày 28/10/2019, tại xã Tân Phước, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS) đã tổ chức Lễ Khởi công xây dựng Công trình Kho chứa 1 triệu tấn LNG nhập khẩu tại Thị Vải. Dự kiến kho LNG Thị Vải sẽ cung cấp khí đốt hóa lỏng nhập khẩu cho các dự án nhà máy tua bin khí hỗn hợp (CCGT) Nhơn Trạch 3 và 4 với tổng công suất 1.500 MW. Dự án này đã nằm trong Quy hoạch tổng thể phát triển các kho cảng LNG trên toàn quốc, được Chính phủ phê duyệt vào năm 2014, nhưng bị chậm mấy năm vì nhiều lý do. Đây là mốc đánh dấu quan trọng đầu tiên về đa dạng hóa nguồn nhiên liệu năng lượng, tăng cường an ninh cung cấp năng lượng trong điều kiện Việt Nam đã trở thành quốc gia nhập khẩu tịnh năng lượng từ 2015. Cũng trong năm nay, Tập đoàn AES (Hoa Kỳ) đã được Chính phủ Việt Nam đồng ý cho triển khai đầu tư vào Nhà máy Điện khí Sơn Mỹ 2 (3 x 750 MW) và Kho cảng nhập khí hóa lỏng (LNG) Sơn Mỹ, dự kiến hoàn thành vào khoảng 2024 - 2025, tiếp tục đánh dấu cho việc LNG sẽ dần đóng vai trò đáng kể trong cơ cấu năng lượng của Việt Nam. 6/ Tổng kết 10 năm hoạt động thành công của Biển Đông 01. Dự án Biển Đông 01 xuất phát từ 2 lô dầu khí Hải Thạch - Mộc Tinh trước đây ký với các công ty nước ngoài. Sau này, 2 lô được hợp nhất lại do Công ty BP điều hành và Việt Nam có tham gia một phần nhỏ thông qua Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP). Năm 2009 PVN đã tiếp nhận lại Biển Đông 01 từ Công ty BP. Với sự dũng cảm, nỗ lực, được PVN chỉ đạo sát sao, Công ty Điều hành Dầu khí Biển Đông (BIEN DONG POC) và các nhà thầu là Tổng Công ty CP dịch vụ Dầu khí (PTSC), Liên doanh Việt Nga (Vietsopetro), Tổng Công ty Tư vấn Thiết kế Dầu khí (PVE), Tổng Công ty CP Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí (PV Drilling) đã triển khai đồng bộ tất cả các hoạt động thiết kế, chế tạo, xây dựng và khoan, tăng cường năng lực thiết kế và chế tạo, trình độ năng lực đội ngũ. Kết quả cụm giàn khai thác và xử lý tại mỏ Hải Thạch - Mộc Tinh, được chúng ta chế tạo, đã đáp ứng được tất cả các yêu cầu khắt khe nhất về kỹ thuật, an toàn tuyệt đối, hoàn toàn có thể cạnh tranh được ở lĩnh vực này trong khu vực và trên thế giới. Biển Đông 01 có nhiều đặc điểm nổi bật: Thứ nhất: Được đánh giá là hiệu quả nhất của PVN. Trong 10 năm qua khai thác tuyệt đối an toàn hơn 10 tỷ m3 khí và hơn 17 triệu thùng condensate; tổng doanh thu đã đạt hơn 2,8 tỷ USD trên tổng mức đầu tư và chi phí vận hành cho tới thời điểm hiện nay là hơn 2,9 tỷ USD. Thứ hai: Đây là công trình dầu khí hoàn toàn do người Việt Nam thiết kế, xây lắp và vận hành. Thứ ba: Ở cách xa đất liền nhất (320 km tính từ Vũng Tàu). Thứ tư: Khai thác dầu - khí ở độ sâu nhất (145 mét nước). Thứ năm: Cấu tạo địa chất ở hai mỏ này là phức tạp và khó khăn nhất thế giới - Chưa một công ty dầu khí nào dám khai thác khí và dầu ở độ sâu gần 4.000 mét, có áp suất 850 atmosphere và nhiệt độ đến 1.750C. Thứ sáu: Có khối lượng thiết bị xây lắp lớn nhất từ trước tới nay (tổng trọng lượng của hai giàn khai thác Hải Thạch và Mộc Tinh và một giàn xử lý khí là 70 ngàn tấn). 7/ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam được nhất trí giao nhiệm vụ Thư ký ASCOPE giai đoạn 2019-2024. Kỳ họp lần thứ 45 Hội đồng Dầu khí ASEAN (ASEAN Council on Petroleum - ASCOPE) đã được Tập đoàn Dầu khí Việt Nam chủ trì tổ chức thành công tại Hà Nội ngày 29 tháng11 năm 2019. Đây là diễn đàn của các nhà lãnh đạo cấp cao của các công ty dầu khí ASEAN về các chủ đề mang tính thời sự như: Chuyển đổi năng lượng toàn cầu, thách thức cho phát triển bền vững và giải pháp để thúc đẩy chuyển đổi năng lượng vì sự phát triển bền vững. Chủ đề chính của Kỳ họp năm nay là “Hợp tác khu vực vì sự phát triển bền vững”. Tham dự Kỳ họp là người đứng đầu các công ty dầu khí/cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí của 10 quốc gia thành viên ASEAN. Lần đầu tiên trong lịch sử, PVN được nhất trí giao nhiệm vụ Thư ký ASCOPE giai đoạn 2019-2024 , thể hiện sự tin tưởng và hỗ trợ của tất cả các quốc gia thành viên. 8/ Triển khai chuỗi dự án đường ống dẫn khí Sao Vàng Đại Nguyệt và Nam Côn Sơn 2 giai đoạn 2 (NCS2). Có 2 dự án song song trong chuỗi dự án này đã triển khai các phạm vi công việc từ tháng 10 năm nay: Thứ nhất, dự án thu gom, vận chuyển khí mỏ Sao Vàng - Đại Nguyệt, gồm đường ống từ giàn nén Sao Vàng kết nối với đường ống NCS2 hiện hữu, đồng thời kết nối với mỏ Thiên Ưng - Đại Hùng nhằm thu gom, vận chuyển khí các mỏ Sao Vàng - Đại Nguyệt và Thiên Ưng - Đại Hùng về NCS2. Thứ hai, đường ống dẫn khí NCS2 giai đoạn 2 là tuyến ống 118 km đấu nối với đoạn đường ống giai đoạn 1 đã hoàn thành năm 2015 để hoàn chỉnh đường ống Nam Côn Sơn 2, đưa khí các mỏ vừa kể tên về bờ kết nối với nhà máy xử lý khí. Dự kiến khi hoàn thành công trình vào cuối quý III/2020, sẽ đưa sản lượng khí khoảng 2-3 tỷ m3/năm vào bờ, bổ sung nguồn khí cho khu vực Đông Nam bộ. Chuỗi dự án đường ống dẫn khí NCS2 và Sao Vàng Đại Nguyệt có vai trò quan trọng trong nhiệm vụ phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng ngành công nghiệp khí Việt Nam, đồng thời bổ sung nguồn khí đốt đáng kể trong lúc nhiều mỏ khí hiện hữu đang trong giai đoạn suy giảm nhanh. 9/ Nhập khẩu than và dầu mỏ tăng cao đột biến, qua đó cho thấy sự phụ thuộc ngày càng tăng của Việt Nam vào nhập khẩu năng lượng. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam đã vượt qua mức ước tính ban đầu là 6,6% - 6,8%, lên đến 7,02%, kéo theo tăng trưởng về nhu cầu năng lượng, đặc biệt là nhu cầu than và dầu mỏ. Sản lượng than nguyên khai đạt thấp so với Quy hoạch than điều chỉnh 403/2016 được phê duyệt theo Quyết định số 403/2016/QĐ-TTg ngày 14/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là một trong những nguyên nhân chính làm cho sản lượng than nhập khẩu tăng cao đột biến. Tổng cộng sản lượng than nguyên khai toàn ngành năm 2019 ước đạt đạt 47,3 triệu tấn, trong đó sản lượng than hầm lò khoảng 28 triệu tấn, chiếm khoảng 59,2%. Như vậy, so với Quy hoạch than điều chỉnh 403/2016, sản lượng than nguyên khai toàn ngành giảm 9 triệu tấn, trong đó hầm lò giảm hơn 6 triệu tấn. Nguyên nhân chính làm cho sản lượng than không đạt mục tiêu sản lượng của Quy hoạch 403 là do tài nguyên, trữ lượng than trong thực tế không có đủ như dự kiến trong QH 403. Nhập khẩu than, trong 10 tháng đầu năm 2019 đã tăng hơn gấp đôi so với năm 2018 lên 36,8 triệu tấn. Ước tính cả năm 2019 sản lượng than nhập khẩu sẽ đạt khoảng 42-44 triệu tấn, vượt mốc sản lượng than nhập khẩu 40,3 triệu tấn đề ra cho năm 2020 trong Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030. Như vậy, từ năm 2019 sản lượng than nhập khẩu cân bằng với sản lượng than khai thác trong nước trên thị trường than nội địa, đánh dấu bắt đầu một giai đoạn mới của thị trường than nội địa sẽ nghiêng dần về than nhập khẩu. Theo đó việc sản xuất và tiêu thụ than sẽ tuân thủ nghiêm ngặt hơn cơ chế thị trường. Nhập khẩu dầu thô đã tăng 80,6% so với cùng kỳ, lên 6,8 triệu tấn trong giai đoạn 10 tháng vừa qua. Ước tính cả năm sản lượng dầu thô nhập khẩu đạt trên 8 triệu tấn. 10/ Chương trình Quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019 - 2030 (VNEEP 3). Nhận thức tầm quan trọng về tiết kiệm năng lượng, an ninh năng lượng, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững, Việt Nam đã tích cực triển khai các Chương trình mục tiêu Quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả (VNEEP). Theo đó, Chương trình VNEEP 1 (giai đoạn 2006 - 2010) mức tiết kiệm năng lượng đạt được là 3-4%, tương đương 4,9 triệu TOE; Kết quả của Chương trình VNEEP 2 (giai đoạn 2012 - 2015) mức tiết kiệm năng lượng đạt được là 5,65%, tương đương với 11,2 triệu TOE. Nhiều năm qua, các chuyên gia ngành năng lượng đã phân tích, đánh giá rằng: Tiết kiệm được 1 đơn vị năng lượng tiêu thụ có thể giảm được gánh nặng đầu tư cho nhà nước và xã hội để sản xuất ra 3-4 đơn vị năng lượng, đồng thời hình thành - nâng cao văn hóa, thói quen sử dụng tiết kiệm - hiệu quả năng lượng cho mọi doanh nghiệp, người dân, hướng tới sự phát triển bền vững. Với việc kiểm điểm, đánh giá kết quả các Chương trình VNEEP 1 và VNEE 2, nhận định những tiềm năng trong lĩnh vực này còn lớn, cần thiết có chính sách thúc đẩy thêm việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong tình hình Việt Nam đã chuyển thành quốc gia nhập khẩu tịnh năng lượng từ năm 2015, ngày 13/3/2019, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 280/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (giai đoạn 2019 - 2030). Mục tiêu của VNEEP 3 là:Đạt mức tiết kiệm năng lượng từ 5 - 7% tổng tiêu thụ năng lượng thương mại toàn quốc (trong giai đoạn từ 2019 - 2025), trong đó giảm mức tổn thất điện năng xuống thấp hơn 6,5%;Đạt mức tiết kiệm năng lượng từ 8 - 10% tổng tiêu thụ năng lượng thương mại toàn quốc (trong giai đoạn 2019 - 2030), trong đó giảm mức tổn thất điện năng xuống thấp hơn 6%. Trong VNEEP 3 đã quy định các chỉ tiêu giảm tiêu hao năng lượng trong nhiều phân ngành kinh tế theo các giai đoạn nêu trên, đồng thời cũng chỉ ra các nhiệm vụ chủ yếu của Chương trình, huy động kinh phí thực hiện; còn các giải pháp thực hiện Chương trình được giao cụ thể cho các bộ, ngành, các địa phương, cũng như các tổ chức sử dụng năng lượng và kêu gọi trách nhiệm của cả cộng đồng./. HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
  • Một năm
    Ồ ạt chạy dự án trước 30/6 để hưởng ưu đãi nhưng sau vạch đích, điều chờ đón các nhà đầu tư là chuỗi ngày mòn mỏi đợi chính sách. Chạy cho kịp mốc 30/6 Ông Thành - chủ một doanh nghiệp năng lượng tại Hà Nội, người có kinh nghiệm đầu tư làm thuỷ điện trước đây - khá tự tin khi quyết định rót vốn vào điện mặt trời cuối năm 2018. Các thủ tục tiến hành sau đó khá thuận lợi, dự án kịp bổ sung vào quy hoạch điện, ký được PPA (hợp đồng mua bán điện). Ông Thành cũng như nhiều chủ đầu tư khác đã ồ ạt đổ tiền vào điện mặt trời để mong được hưởng chính sách giá là 9,35 cent một kWh trong 20 năm, theo Quyết định 11/2017. Vấn đề là quyết định này chỉ có hiệu lực đến ngày 30/6/2019. Sau ngày này, giá điện mặt trời sẽ thấp hơn. Một "cánh đồng"điện mặt trời tại Ninh Thuận được chủ đầu tư kịp đưa vào vận hành thương mại trước 30/6.Ảnh: Quỳnh Trần. Vì thế, các dự án điện mặt trời khi ấy chạy đua trước mốc 30/6 tới mức, Trung tâm Điều độ hệ quốc gia (A0) cho biết, cuối tháng 6 họ phải lập tổ công tác đóng điện mặt trời, nhân lực chia 3 ca, 5 kíp để phối hợp liên tục giữa các trung tâm điều độ các miền. 5.000- 6.000 tin nhắn được A0 trao đổi với các chủ đầu tư điện mặt trời mỗi ngày, liên tục từ 6h đến 0h hôm sau. 3-4 nhà máy điện mặt trời được đóng điện mỗi ngày, để số này kịp vận hành trướcngày 30/6. Số nhà máy đưa vào vận hành đồng loạt trong một thời gian ngắn là điều mà theo một lãnh đạo EVN thừa nhận, "chưa từng có trong lịch sử" ngành điện. Số nhà máy điện mặt trờivận hành tăng lên nhanh chóng trong 3 tháng đầu năm 2019.Đồ hoạ:Tạ Lư. Năm 2018, 3 nhà máy đóng điện thành công, con số này tăng lên gần 30 lần sau 6 tháng, tập trung rầm rộ vào tháng 4 và 6/2019, với công suất lắp đặt xấp xỉ 4.500 MW. Riêng tháng 6, tháng cuối cùng trước khi Quyết định 11 hết hiệu lực, có thêm 49 dự án vận hành. Đồng loạt các nhà máy vận hành trong thời gian ngắn cũng kéo theo hệ luỵ quá tải lưới truyền tải một số khu vực, điển hình là Bình Thuận, Ninh Thuận. Điển hình Trục đường dây 110kV Tháp Chàm - Hậu Sanh - Tuy Phong - Phan Rí quá tải tới 260-360%... Các nhà máy năng lượng tái tạo ở các khu vực này phải giảm phát ở từng thời điểm để vận hành an toàn hệ thống. Điện mặt trời là loại năng lượng mới, bổ sung thêm nguồn cho hệ thống điện quốc gia trong bối cảnh thiếu nguồn cung, nhưng sản lượng chỉ chiếm khoảng 2% điện sản xuất từ đầu năm đến nay. Bình quân mỗi ngày sản lượng điện mặt trời huy động dao động 25-27 triệu kW. 'Phanh' gấp chờ chính sách giá, quy hoạch Giai đoạn bùng nổ qua đi, sự trầm lắng trở lại trên các công trường dự án điện mặt trời lỡ hẹn với mốc 30/6. Theo số liệu cập nhật của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), từ 1/7 đến nay chỉ có 2 dự án điện mặt trời hoàn tất điều kiện vận hành thương mại (COD), là Nhà máy Hacom Solar (40,3 MW) và Solar Park 01 (40 MW). So với hơn 4.000 MW điện mặt trời được đưa vào hệ thống từ tháng 4 đến hết tháng 6/2019, đã có sự chững lại về số lượng. Hai lý do được các nhà đầu tư đưa ra, là chưa có giá mua điện mặt trời mới sau ngày 1/7 và "độ vênh" giữa quy hoạch nguồn và lưới điện truyền tải. Thậm chí, có 39 dự án đã ký xong PPA, đang thi công dở dang nhưng "lên được lưới hay không thì phải chờ". Điều họ chờ đợi chính là cơ chế giá rõ ràng cho giai đoạn sau ngày 30/6 và đến giờ sau nửa năm vẫn chưa ngã ngũ. Lượng lớn dự án vận hành cuối tháng 6 đã khiến các trạm biến áp, đường dây quá tải tại một số khu vực. Đồ hoạ:Tạ Lư Một chuyên gia tư vấn cho các dự án năng lượng tái tạo cũng không khỏi sốt ruột. Ông kể, có dự án đã từng được thông báo đưa vào quy hoạch điện nhưng sau "bặt tăm" vì vướng Luật Quy hoạch mới có hiệu lực từ 1/1/2019. Với dự án năng lượng, lãi vay thường chiếm 60-70% vốn đầu tư. Với lãi suất phổ biến 10-11% một năm hiện nay, dự án dừng ngày nào, chủ đầu tư như ngồi trên đống lửa ngày đó. "Nhà đầu tư vẫn bày tỏ mong muốn đi tới cùng dự án, nhưng gần một năm mọi thứ đều dừng vì chờ quy hoạch, chờ giá, không biết họ có thể trụ thêm được hay không", vị này chia sẻ. Thực tế, từ tháng 6, Bộ Công Thương đã đưa ra dự thảo giá điện mặt trời mới áp dụng sau ngày 30/6 với đề xuất chia 4 vùng giá theo mức bức xạ nhiệt. Sau nhiều góp ý, phương án đưa ra được "gút" lại còn 2 mức giá. Thế nhưng đây vẫn chưa phải kịch bản cuối cùng. Ở lần đề xuất sau đó, Bộ Công Thương lại chỉ chọn một mức giá cho tất cả vùng, 1.620 đồng một kWh, thấp hơn nhiều so với mức giá ưu đãi áp dụng trước tháng 7/2019. Rồi sau đó, Bộ Công Thương lại đổi phương án sau khi được Chính phủ yêu cầuhoàn thiện phương án đấu thầu điện mặt trời, tương tự cách Campuchia triển khai. Đấu thầu không phải 'phép màu' Theo tờ trình mới nhất Bộ Công Thương gửi Chính phủ, các dự án đã có hợp đồng mua bán điện và đang thi công dở dang như dự án của ông Thành tại Bình Phước, vẫn được áp dụng giá mua điện cố định (7,09 cent một kWh), thấp hơn nhiều giá 9,35 cent một kWh như trước ngày 30/6. Các dự án còn lại chưa thi công, kể cả đã được bổ sung quy hoạch sẽ phải thông qua đấu thầu giá điện. Nhà chức trách đề xuất thí điểm đấu thầu trong năm 2020 với quy mô công suất 50-100 MW. EVN được đề nghị là đơn vị đầu mối xây dựng phương án và kế hoạch tổ chức đấu thầu theo Luật Đấu thầu, báo cáo Bộ xem xét và Thủ tướng phê duyệt trong quý I/2020. "Đấu thầu điện mặt trời lúc này là chưa khả thi", ông Nguyễn Hữu Vinh – Tổng giám đốc Công ty cổ phần Hà Đô Ninh Thuận đánh giá. Ông Vinh dẫn quy định Luật Đấu thầu, muốn đấu giá phải có mặt bằng đất sạch, và muốn vậy phải có quy hoạch. Kinh nghiệm các nước cho thấy, thời gian đấu thầu cũng mất 2 năm. Với quy trình đấu thầu như vậy, muốn dự án vào nhanh, có thêm nguồn cũng cực kỳ khó. Chưa kể, đấu thầu để đảm bảo mục tiêu minh bạch, công khai là tốt, nhưng yêu cầu trước mắt là phải đủ điện. "Hơn 10 tháng nay, tất cả quy hoạch đều bị dừng lại. Bao giờ có quy hoạch thì mới triển khai công tác giải phóng mặt bằng, có đất sạch bàn giao thì chủ đầu tư mới có cơ sở để thực hiện dự án mời thầu. Mà với thực tế lưới điện hiện nay sẽ không có nhiều dự án đấu thầu thành công, chưa nói các khó khăn pháp lý liên quan", ông Vinh nhận định. Trong khi đó, ông Nguyễn Văn Ngọc – Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần phát triển năng lượng Sơn Vũ cũng nói "chưa thể triển khai đấu thầu điện mặt trời lúc này". Với Campuchia, để có được mức giá 3,877 cent một kWh (800-900 đồng) sau đấu giá, Nhà nước phải bàn giao mặt bằng sạch cho nhà đầu tư, làm đường dây truyền tải, trạm biến áp và dự án được vay hỗ trợ lãi suất thấp của Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB). Còn với Việt Nam khi còn khó khăn về bàn giao đất sạch, hạ tầng lưới truyền tải chưa sẵn sàng tới "tận chân công trình"... cho chủ đầu tư, ông Ngọc nói, khó có thể phát điện thành công ở quy mô nghìn MW trong 2-3 năm tới qua đấu thầu. Việc đưa ra một cơ chế thu hút mới, tránh tắc nghẽn cục bộ như vừa qua ông Ngọc cho rằng cần thiết, song "đấu thầu không phải là giải pháp duy nhất hãm phanh điện mặt trời". Trước thực tế gần một năm không tiến triển trong triển khai dự án, một nhóm nhà đầu tư có dự án đầu tư dở dang vừa cùng ký tên vào văn bản gửi Thủ tướng, đề nghị được bổ sung dự án của mình vào quy hoạch điện. Họ cũng đề nghị cho phép các dự án nêu trên được áp dụng theo cơ chế giá mua điện FIT song song với việc hoàn thiện cơ chế và thí điểm việc đấu thầu. Các nhà đầu tư cũng bày tỏ mong muốn Chính phủ cần sớm có cơ chế mới về điện mặt trời để khẳng định cam kết về sự an toàn, nhất quán và ổn định môi trường đầu tư kinh doanh. Và trong lúc cơ chế giá mới cho điện mặt trời chưa ngã ngũ, ông Thành và các chủ đầu tư khác sẽ tiếp tục chờ. "Mọi việc cứ ách lại. Không có giá không làm gì được. Chúng tôi đang rất mông lung", ông Thành nói. Anh Minh (Vnexpress)
  • Người Việt làm thủy điện lớn nhất Đông Nam Á
    Hơn mười năm trước, Thủy điện Sơn La được các chuyên gia, kỹ sư, công nhân trẻ tự lực xây dựng, hoàn thành trước dự kiến ba năm. Thủy điện Sơn Lanằm trên địa bàn xã Ít Ong (Mường La, Sơn La), được khởi công từ năm 2005 đến 2012 hoàn thành. Nhà máy thủy điện được thiết kế kiểu hở, bố trí sau thân đập. Giai đoạn thi công cao điểm huy động tới 13 nghìn người. Để thi công nhà máy hơn 20.000 hộ dân của ba tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu phải di dời. Đập bê tông có chiều dài 961m, cao 138 m, rộng 102 m ngăn sông Đà để tạo thành hồ chứa 9,3 tỷ m3 nước.Công trình có tổng mức đầu tư khoảng 60.000 tỷ đồng, cấp sản lượng điện trung bình hàng năm là hơn 10 tỷ kWh và đảm nhiệm chống lũ về mùa mưa, cung cấp nước về mùa khô cho đồng bằng Bắc Bộ. Sáu cửa xả mặt kéo từ trên nóc con đập xuống dòng sông cùng 12 cửa xả sâu. Phần đập dâng có mái, thành từng bậc kiên cố.Móng của thủy điện đặt trên nền đá bazan vững chắc về địa chất. Kết cấu đập bê tông trọng lực cao 138,1 m; chiều dài đỉnh đập 961,6 m, cao gần 90m, sử dụng công nghệ bê tông đầm lăn hiện đại nhất thời bấy giờ. Khu cửa nhận nước phía thượng lưu có 6 ống bằng thép khổng lồ xuyên qua đập dẫn nước vào tuabin của nhà máy. Thủy điện Sơn La là công trình có nhiều thiết bị quan trắc nhất, chia thành 7 mặt cắt, 1.028 cảm biến có nhiệm vụ khác nhau. Đặc biệt, 11 thiết bị đo địa chấn đặt tại các vị trí trọng yếu để thường xuyên kiểm tra thông tin an toàn đập. Sáu máy biến áp có trọng lượng 280 tấn. 18 kiện của máy biến áp siêu trường siêu trọng từng trải qua cuộc di chuyển khó khăn về tới công trường an toàn, đúng tiến độ. Một Xí nghiệp cơ khí tại Việt Nam đã lần đầu sản xuất chiếc cẩu siêu trường siêu trọng 1.200 tấn (chi phí rẻ bằng 1/3 so với mua ở nước ngoài) để đưa rotor có trọng lượng 1.000 tấn, đường kính 15,8 m, chiều cao 3,2 m - kết cấu nặng nhất trong các thiết bị lắp đặt tại công trường, cũng là rotor nặng nhất trong các nhà máy thuỷ điện của Việt Namvào đúng vị trí của tổ máy với sai số 3cm. Sáu tổ máy, sử dụng turbin trục đứng, đường kính bánh xe 8,5 m. Thủy điện Sơn La là nhà máy đầu tiên ở Việt Nam sử dụng thiết bị tự động hóa nên tại mỗi phòng chức năng chỉ cần một đến hai kỹ sư giám sát. Việc duy trì vận hành nhà máy được kết nối trực tiếp với Trung tâm điều khiển. Điểm nhấn công nghệlà hệ thống truyền đóng cắt truyền dẫn kín, cho phép truyền dẫn dòng diện 500 kV vận hành trong không gian nhỏ. Thủy điện Sơn La đã phát điện tổ máy số một vào ngày 25/12/2010, sớm hơn hai năm so với yêu cầu của Quốc hội. Toàn bộ nhà máy đưa vào vận hành sớm 3 năm đồng nghĩa với việc cung cấp cho nền kinh tế ngoài kế hoạch 30 tỷ kWh, tương đương giá trị 1,5 tỷ USD. Ngọc Thành
  • Đánh giá hiện trạng triển khai các dự án điện trọng điểm
    Ngày 11/11, Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh đã triệu tập cuộc họp khẩn với các đơn vị có liên quan để đánh giá hiện trạng, đồng thời đề ra giải pháp cấp bách nhằm tháo gỡ khó khăn cho các dự án điện trọng điểm. Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh họp với các đơn vị liên quan để đánh giá hiện trạng, đồng thời đề ra giải pháp cấp bách nhằm tháo gỡ khó khăn cho các dự án điện trọng điểm. Cuộc họp được tổ chức ngay sau khi kết thúc phiên chất vấn tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XIV cho thấy, Bộ Công Thương đã nghiêm túc tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội và ý kiến của các đại biểu với tinh thần cậu thị, trách nhiệm nhằm triển khai ngay các giải pháp đảm bảo điện cho phát triển kinh tế - xã hội. Nhìn nhận thực tế, Việt Nam đang phải đối mặt với nguy cơ thiếu điện cao trong 2019-2020 và kéo dài tới 2022-2023, nguy cơ không có dự phòng ở vùng phụ tải cao như Tây Nam Bộ là rất lớn, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nhấn mạnh: Tình hình đang rất cấp bách và chúng ta không thể chậm trễ hơn được nữa. Trong các báo cáo gửi Chính phủ, Quốc hội, Bộ Công Thương nêu thực tế do điều kiện bất lợi thời tiết với tính cực đoan cao, các thuỷ điện không đủ tích nước, khiến Việt Nam đối mặt suy giảm thị trường năng lượng sơ cấp khi dự báo sẽ phải nhập 20 triệu tấn than vào 2020 và tăng lên 35 triệu tấn than vào 2035. Nguồn khí cũng không đủ phục vụ phát điện cho dự án ở Đông Nam Bộ. Các năm 2019-2020 hệ thống điện có thể đáp ứng nhu cầu điện cho phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, do hệ thống điện gần như không có dự phòng nguồn điện nên trong năm 2020 có thể đối mặt nguy cơ thiếu điện. Các năm 2021-2025, mặc dù đã phải huy động tối đa các nguồn điện chạy dầu, tuy nhiên hệ thống điện không đáp ứng nhu cầu phụ tải và xảy ra tình trạng thiếu điện tại miền Nam với mức thiếu hụt tăng từ 3,7 tỷ kWh (năm 2021) lên gần 10 tỷ kWh (năm 2022), mức thiếu hụt cao nhất vào năm 2023 khoảng 12 tỷ kWh, sau đó giảm dần xuống 7 tỷ kWh năm 2024 và 3,5 tỷ kWh năm 2025. Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nhấn mạnh: Bộ Công Thương là cơ quan đầu mối về năng lượng, tham mưu cho Chính phủ xây dựng tổng sơ đồ. Bộ đã có nhiều hoạt động cụ thể để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Thời gian qua còn nhiều dự án chậm tiến độ, gây nguy cơ thiếu điện, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, tác động đến đời sống dân sinh. Do vậy, yêu cầu các các đơn vị, cơ quan liên quan rà soát lại khuôn khổ pháp lý, báo cáo, có biện pháp cụ thể xử lý ngay các vướng mắc đối với các dự án chậm tiến độ. Bộ trưởng yêu cầu các đơn vị cần đánh giá cụ thể từng dự án, vướng mắc ở đâu, khó khăn chỗ nào, khả năng đáp ứng được tiến độ đến đâu. Trong trường hợp không đáp ứng được về mặt tiến độ thì giải pháp nào thay thế là gì, nếu nhập khẩu điện thì nhập khẩu ở nguồn nào, giá cả ra sao, khả năng đấu nối ra sao? Nếu sử dụng năng lượng tái tạo điện mặt trời, điện gió để thay thế thì khả năng đáp ứng được đến đâu, có những vướng mắc khó khăn hay cần phải điều chỉnh cơ chế, chính sách gì... Bộ trưởng đề nghị Ban Chỉ đạo quốc gia về phát triển điện lực trực tiếp theo dõi, giám sát chỉ đạo, chịu trách nhiệm làm đầu mối phối hợp với Uỷ ban quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp tập trung giải quyết vướng mắc, nhất là về vốn, nguồn ngoại tệ. Đồng thời phải có chương trình làm việc hàng tháng để rà soát và thống nhất giải pháp thực hiện liên quan tới dự án chậm tiến độ, có kịch bản cho từng tình huống… như vậy mới có thể hoàn thành nhiệm vụ và yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ. “Bộ Công Thương sẽ có báo cáo cụ thể với Chính phủ về nguy cơ thiếu điện, đưa ra các giải pháp về cơ chế để giải quyết. Chúng ta cần làm ngay, cấp bách lắm rồi và không thể chậm trễ”, người đứng đầu ngành Công Thương nhấn mạnh./. TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Development cooperation

We always acknowledge that your cooperation has made a significant contribution to our success

Contact us

(+84-24) 222 555 86

Financial statement

21/08/2018

Partners customers